Thứ Tư, 14 tháng 3, 2018

Thứ Năm tuần IV Mùa Chay Xh 32,7-14; Ga 5,31-47 LỜI CHỨNG

Thứ Năm tuần IV Mùa Chay
Xh 32,7-14; Ga 5,31-47


LỜI CHỨNG

Kính thưa cộng đoàn! Sau khi Chúa Giê-su đến hồ Bết-da-tha và chữa lành cho người đàn ông bị bại liệt 38 năm, thì những kinh sư và Pha-ri-siêu bắt bẻ Chúa và cho rằng Chúa đã vi phạm luật ngày Sa-bát vì đã chữa bệnh trong ngày này. Tiếp đó, Chúa Giê-su trực tiếp trả lời với những kinh sư và Pha-ri-siêu về thân thế và sứ vụ của Người.
Người công nhận Người chính là Con Thiên Chúa và Người đến thế gian để hoàn tất công việc của Thiên Chúa nghĩa là canh tân và hoàn tất lề luật. Đức Giê-su khẳng định Người không làm bất cứ điều gì nếu chưa thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm thì người Con cũng làm như vậy. Nếu như Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho con ngườ thế nào thì người Con cũng ban sự sống cho ai tùy ý.(x. Ga 5, 19-21).
Nói tới đây, Đức Giêsu biết người Do Thái đang nghĩ trong lòng: Ai là người đã sai Đức Giê-su đến để làm những việc đó? Nên Chúa đã trả lời cho các ông: “Nếu tôi làm chứng về chính mình thì lời chứng của tôi không thật…Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, chính Người cũng đã làm chứng cho tôi.” (x. Ga 5, 31-37). Hơn nữa chính Kinh thánh được viết ra cũng là để làm chứng cho Đức Giê-su (x. Ga 5,39).

Kính thưa cộng đoàn! Hiểu được Lời Chúa như thế, xin được chia sẻ với cộng đoàn 2 điểm:

1. Điểm thứ nhất: Chúng ta đã tin Chúa như thế nào?

Cho dù có 3 chứng nhân làm chứng cho Đức Giê-su đó là: Ông Gio-an, Chúa Cha, và Kinh thánh nhưng những người Do thái vẫn không tin Chúa là vì họ không chấp nhận được một Đấng Mê-si-a khác với não trạng của họ. Với họ, Đấng Mê-si-a phải là một bậc quân vương cầm gươm đánh đuổi ngoại xâm thống nhất đất nước như Vua Đa-vít.
Mỗi người chúng ta cũng thế, chúng ta tự nghĩ ra trong đầu mình một Thiên Chúa theo ý riêng mình. Một Thiên Chúa đáp ứng cho những nhu cầu của chúng ta. Vì vậy, nhiều khi không xin được ơn chúng ta đâm ra nghi ngờ và mất niềm tin vào Chúa.

2. Điểm thứ hai: Chúng ta đã làm chứng cho Chúa ra sao?

Chúa đã khẳng định với những người kinh sư và Pha-ri-siêu, và cũng là khẳng định với chúng ta: “Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân.” (Ga 5, 34). Thế nhưng hiện nay, ở một vài chỗ hành hương rộ lên một số người, không ngại đứng ra làm chứng nhân cho Lòng Thương Xót Chúa. Bỏ qua những chiều kích tiêu cực, ở đây chúng ta chỉ bàn về khía cạnh tích cực thôi. Việc làm chứng cho Chúa như thế thì đáng được khích lệ, bởi cách nào đó chúng ta cũng đang giới thiệu Chúa cho mọi người. Tuy nhiên, trong số trăm ngàn chứng nhân đó, được bao nhiêu người có sự thay đổi thật sự trong đời sống của họ. Thật vậy, việc làm chứng trở nên sai lầm và xa rời thánh ý Chúa là do chúng ta chỉ làm chứng bằng lời nói suông mà không có hành động cụ thể. Chúa đã nói rất rõ với người bị bại liệt 38 năm, sau khi chữa lành cho anh ta: “Anh đã được lành bệnh và từ nay đừng phạm tội nữa kẻo phải khốn khổ hơn trước.” (Ga 5,14). Đừng phạm tội đơn giản chỉ là thay đổi lối sống. Đó là một lối sống tích cực, yêu thương, và bác ái.

Nói tóm lại, chúng ta tin Chúa đấy, chúng ta đi lễ hằng ngày, rước Thánh Thể Chúa hằng ngày, diện đối diện với Chúa qua những giờ chầu Thánh Thể, nhưng liệu rằng chúng ta đã hết lòng đặt niềm tin vào Chúa chưa? hay cũng còn nghi ngờ và tính toán so đo?. Hơn thế nữa, mỗi người chúng ta được mời gọi trở nên một chứng nhân cho Chúa trong gia đình và ngoài xã hội. Làm chứng không chỉ bằng lời nhưng quan trọng bằng chính lối sống của chúng ta. Đó là một đời sống tích cực, một đời sống bác ái, yêu thương. Amen

MAPHUC,SSS


Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

Thứ Ba tuần IV Mùa Chay Ed 47,1-9.12; Ga 5,1-3a.5-16 NGUỒN NƯỚC CHỮA LÀNH

Thứ Ba tuần IV Mùa Chay
Ed 47,1-9.12; Ga 5,1-3a.5-16

Dẫn đầu lễ
Kính thưa cộng đoàn! Hôm nay Tin mừng thuật lại cho chúng ta biết Chúa chữa lành cho một người bị bại liệt đã 38 năm. Qua việc chữa lành này của Chúa, thay vì vui với bệnh nhân vì họ được chữa lành, những người Do Thái lại tức giận và tìm cách bắt bẻ Chúa vì đã vi phạm luật ngày Sa-bát. Qua đó, càng làm cho chúng ta một sự so sánh: Giữa một bên là lệ luật, một bên là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Luật chỉ đưa con người đến cái chết, còn Lòng Thương Xót thì cứu sống con người.
Dâng Thánh lễ này chúng ta cầu nguyện cho mỗi người chúng ta luôn biết trông cậy vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, qua đó cũng biết thương xót và cảm thông cho tha nhân như vậy, chứ đừng như các kinh sư và Pha-ri-siêu luôn trọng lề luật, bất chấp tình người.
Giờ đây, chúng ta cùng thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành Mầu Nhiệm Thánh.



NGUỒN NƯỚC CHỮA LÀNH

Tin mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta câu chuyện Đức Giê-su chữa lành cho người bại liệt 38 năm. Trong 38 năm trời, ngày nào ông ta cũng đến hồ Bết-da-tha với hy vọng ai đó sẽ đưa anh xuống nước trước tiên, khi nước được các thiên thần khuấy lên. Và như vậy, anh ta sẽ được chữa lành. Thật vậy, Tin mừng cho chúng ta biết “thỉnh thoảng có thiên thần Chúa xuống hồ khuấy nước lên; khi nước khuấy lên, ai xuống trước, thì dù mắc bệnh gì đi nữa cũng được khỏi.” (Ga 5, 4)

Không biết trong vòng 38 năm đó có bao nhiêu lần các thiên thần xuống khuấy nước và có bao nhiêu người được chữa lành. Nhưng con số 38 năm cho biết dường như mong ước được chữa lành là vô vọng, không thể thực hiện được. Bởi trong văn hóa Do thái, 40 năm để nói lên một đời người, một thế hệ. Chẳng hạn như dân Ít-ra-en rong ruổi 40 năm trong sa mạc, nghĩa là thế hệ đầu tiên phải qua đi, thế hệ thứ 2 sau khi được thanh tẩy mới được vào Đất Hứa. Như vậy, người bệnh trong Tin Mừng đã chờ đợi 38 năm, nghĩa là đã chờ đợi gần hết cả đời người.

Đang khi sự hy vọng không còn nữa thì Đức Giê-su đến, Người chữa lành cho anh một cách nhanh chóng và mau lẹ: “Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi” (Ga 5, 8), không cần anh ta phải tin và chứng tỏ niềm tin như những lần làm phép lạ khác của Chúa. Qua đó, chứng tỏ cho chúng ta rằng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa luôn đi bước trước, ngay cả khi chúng ta chưa sẵn sàng để đặt niềm tin vào Chúa, ngay cả khi chúng ta chưa mở lời xin Chúa.

Cũng giống như người đàn ông bị bại liệt trong Tin mừng, nhiều người trong chúng ta thường tìm đến những nơi hành hương để xin ơn. Ở Việt nam chúng ta có nhiều nơi hành hương nổi tiếng, trong số đó phải kể đến như: Đức Mẹ Lavang – Quảng Trị, Đức Mẹ Măng Đen – Komtum, gần hơn chúng ta là các đến thánh Martin – Hố Nai, hay Đền Thánh Giuse Công Chính hay cha Trương Bửu Diệp, và hiện đang rất nổi là Lòng Thương Xót Chúa, Nhà Bè – do Cha Trần Đình Long chịu trách nhiệm... Chúng ta tìm đến những nơi đó để xin khấn, xin ơn và nhất là xin cho khỏi bệnh, không bệnh thể xác thì bệnh tâm hồn.
Thỉnh thoảng, ở những nơi hành hương đó cũng có một vài người được chữa lành. Vấn đề đặt ra cho chúng ta: Ai là người đã chữa lành cho chúng ta? Phải chăng chính Đức Mẹ hay các thánh, hay một linh mục nào đó?

Thưa! Chính Thiên Chúa, hay nói cụ thể là chính Đức Giê-su mới là người có khả năng chữa lành cho chúng ta. Bài đọc 1 trích sách Ê-dê-ki-en cho chúng ta biết Thiên Chúa là cho một vọt nước chảy ra từ ngưỡng cửa Đền Thờ và nước chảy đến đâu thì mang lại sự sống đến đó. Tuy vậy, mạch nước đó chỉ là biểu tượng cho Mạch Nước Trường Sinh là chính Đức Giê-su. Người chính là Nước Hằng Sống. Chỉ có Đức Ki-tô mới có thể cứu vớt, chữa lành và mang lại sự sống cho con người.

Thật vậy, dòng nước của hồ Bết-da-tha tự nó, không có sức chữa lành, nó chỉ có thể chữa lành khi được Thiên Chúa cho phép các thiên thần khuấy lên mà thôi. Cũng vậy, Đức Mẹ, hay các Thánh, hoặc bất kỳ một linh mục nào chúng ta nghe thấy có khả năng làm phép lạ chữa lành bệnh thì cũng chỉ là công cụ cho Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mà thôi. Chính Thiên Chúa mới là người chữa lành.

Nếu vậy, nhiều người đã sai lầm, bởi khi được lành bệnh, thay vì ca tụng Thiên Chúa, chúng ta lại tôn vinh một người phàm lên như thánh, như Chúa. Nhiều người hay đồn thổi với nhau: Cha đó hay lắm, thầy đó giỏi lắm, xin khấn gì cũng được... Một khi làm như thế là chúng ta một mặt vô ơn với Thiên Chúa, mặt khác việc chúng ta ca tụng một người phàm quá mức như thế là chúng ta phạm tội thờ ngẫu tượng. Mà chính Chúa cũng đã nói: “Anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn khổ hơn trước.” (Ga 5,14)

Chúng ta ngày nay hạnh phúc hơn người bại liệt khi xưa, không phải chờ đợi đến 38 năm để được gặp Chúa. Bởi hằng ngày, nơi mỗi Thánh lễ và nhất là mỗi khi Chầu Thánh Thể, chúng ta không chỉ được gặp gỡ Chúa, được diện đối diện với Chúa, hơn nữa còn được rước Chúa vào lòng. Ấy vậy mà, ai trong chúng ta cảm nhận được Chúa chữa lành. Đi lễ đấy, rước Thánh Thể Chúa đấy, chầu Thánh Thể đấy nhưng lòng chúng ta ở đâu đâu chứ không phải ở bên Chúa.

Nói tóm lại, chúng ta chưa được chữa lành là vì chúng ta chưa gặp được Chúa thật sự trong chính nội tâm mình. Mùa Chay thánh quả là thời gian thuận tiện nhất để chúng ta có dịp duyệt xét lại đời sống. Với thân phận con người, ắt hẳn chúng ta mang nơi mình những yếu đuối của bệnh tật phần xác và cả những lỗi tội phần hồn. Điều đó khiến lòng chúng ta luôn nặng trĩu, ù lỳ. Chân tay chúng ta cũng như người bại liệt, tê cứng lại, không dám đối diện gặp gỡ Chúa. Vậy giờ đây, chúng ta được mời gọi hãy can đảm lên, cậy trông và chạy đến với Nguồn Nước Chữa Lành, Nước Hằng Sống của Thiên Chúa nơi Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải để được chữa lành và cứu sống như người bại liệt khi xưa. Amen.

MAPHUC,SSS

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2018

Chúa nhật IV MC – B – TN 2Sbn 36,14-16.19-23; Ep 2,4-10; Ga 3,14-21 SỰ CÔNG BÌNH và LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Chúa nhật IV MC – B – TN
2Sbn 36,14-16.19-23; Ep 2,4-10; Ga 3,14-21

SỰ CÔNG BÌNH và LÒNG THƯƠNG XÓT 
CỦA THIÊN CHÚA

Lời dẫn đầu lễ
        Kính thưa cộng đoàn! Sứ điệp Lời Chúa Chúa nhật thứ IV Mùa Chay hôm nay đề cập đến sự công bình và lòng thương xót của Thiên Chúa. Nếu như con người liên phá vỡ giao ước, lỗi phạm đức công bình nên phải gánh lấy hậu quả năng nề, phải đau khổ, phải chết; thì Thiên Chúa không những trung thành giữ giao ước mà lại tỏ lòng xót thương cứu vớt con người.   
Dâng Thánh lễ này, chúng ta ý thức lại thân phận tội lỗi của mình. Đã nhiều lần chúng ta phạm tội, xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân nhưng Thiên Chúa vẫn tha thứ cho chúng ta. Chúng ta cầu xin Chúa ban ơn để chúng ta lướt qua mọi cám dỗ và quay về đường ngay nẻo chính.
Giờ đây, chúng ta cùng thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành mầu nhiệm Thánh.

Chia sẻ Lời Chúa

Kính thưa cộng đoàn, trước đến nay hễ khi nhắc đến Thiên Chúa là chúng ta nhắc đến một Thiên Chúa giàu lòng xót thương, một người cha nhân từ luôn tha thứ cho các tội nhân. Ấy vậy mà bài đọc 1 trích quyển thứ 2 sách Sử Biên Niên khắc họa cho chúng ta một Thiên Chúa vô cùng độc ác, một vị thần hỷ diệt và giết chóc: “Đức Chúa bừng bừng nổi giận và trừng phạt dân Người đến vô phương cứu chữa…Những ai còn sót lại không bị gươm đâm, thì vua bắt đi đày ở Ba-bi-lon; họ trở thành nô lệ của vua và con cháu vua…” (2Sbn 36, 19-20).
Sự trừng phạt của Thiên Chúa không chỉ trong quá khứ, nhưng trong não trạng của con người ngày nay, chúng ta vẫn nghĩ rằng Thiên Chúa vẫn tiếp tục trừng phạt con người vì thế nên mới có chiến tranh, thiên tai, bệnh hoạn tật nguyền, giết chóc…
Một câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta: Tại sao Thiên Chúa - Đấng vốn giàu lòng xót thương lại có thể ra tay độc ác như thế đối với con người?
1. Trước hết, sở dĩ Thiên Chúa nghiêm khắc trừng phạt con người là vì sự công bình của Thiên Chúa.
Thiên Chúa yêu thương ban cho con người sự tự do. Tuy nhiên cũng chính vì thế mà con người phải luôn chọn lựa giữa hai thái cực: tốt – xấu. Sự xung đột này được thánh Phaolô diễn tả: “điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm.” (Rm 7,15). Chính vì thế, để con người không sa ngã một lần nữa như tổ tiên xưa và để đưa con người về cõi sống nên Thiên Chúa đã ký kết giao ước với con người. Về phía mình, con người có bổn thận thờ phượng Thiên Chúa và về phía Thiên Chúa, Người sẽ ban phước và chở che con người. Ai vi phạm giao ước này là lỗi đức công bình.
Thật vậy, Thiên Chúa không chỉ là Đấng giàu lòng xót thương, hiền lành nhưng Người còn là Đấng Công Bình. Con người được coi là công chính, công bình khi giữ giao ước và thi hành đầy đủ các giới răn mà Chúa đã truyền. Đối lại, con người cũng có quyền đòi Thiên Chúa thanh toán nghĩa vụ của Ngài, tức là ban thưởng nếu con người hết lòng thờ phượng Thiên Chúa.
 Tuy nhiên, trong quá khứ, và ngay cả hiện tại, con người liên tục phạm tội chống lại Thiên Chúa, phá bỏ giao ước, bất phục tùng Thiên Chúa. Một khi phá bỏ giao ước thì con người vi phạm đức công bình. Nên Thiên Chúa không còn bảo vệ và ban ơn cho con người nữa. Một khi không còn Thiên Chúa bảo vệ chở che, con người ngay lập tức rơi vào cảnh khốn cùng, đau khổ, trầm luân, bế tắc, lưu đày. Vì thế, cuộc lưu đày ở Babylon mà bài đọc 1 chúng ta vừa nghe, tạo ra một ấn tượng khó quên trong lòng dân Israel. Khiến họ luôn nghĩ rằng Thiên Chúa đã rời bỏ, và trừng phạt họ.
Thế nhưng, thay vì lên án kẻ có tội, và đòi lại sự công bình cho mình, Thiên Chúa luôn tỏ ra là Cha giàu lòng thương xót, rất mực yêu thương con cái mình, bất chấp con mình phá vỡ giao ước, vi phạm đức công bình. Đức Chúa tác động trên tâm trí Ki-rô, vua Ba tư, ra lệnh giải phóng dân Người khỏi lưu đày ở Ba-bi-lon, trở về Giu-đa tái thiết đến thờ Giê-ru-sa-lem. (x 2Sbn 36,22-23)
 Thật vậy, mặc dầu con người phá bỏ giao ước nhưng Thiên Chúa vẫn tiếp tục kiên nhẫn duy trì giao ước với dân Người. Người nhận về mình phần đổ vỡ, bất công của con người và sẵn sàng bị mang tiếng là độc ác và hủy diệt.

2. Điểm thứ hai: Thiên Chúa tỏ ra cứng rắn là để thương xót và cứu vớt con người.

Mặc dầu, trong não trạng Ít-ra-en, Thiên Chúa nhiều lần trừng phạt con người, nhưng với chúng ta, sự trừng phạt ấy không phải để giết chóc, hủy diệt mà là để tỏ lòng thương xót và cứu vớt con người. Thánh Pha-lô trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô đã xác tín điều đó: “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dẫu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được sống cùng với Đức Ki-tô.”(Ep 2,4)
Thật vậy, trong Cựu ước, khi con người phạm tội và bị rắn cắn chết, con rắn đồng được dương lên để những ai khi bị rắn cắn nhìn thấy con rắn đồng thì được cứu sống. Tuy nhiên, con rắn đồng khi được dương cao trong sa mạc, tự nó không mang lại sự sống cho con người. Con rắn chỉ là biểu tượng cho lòng thương xót của Thiên Chúa mà thôi. Chính lòng thương xót đã cho con người được sống chứ không phải con rắn. Khi thời gian đến hồi viên mãn, Đức Ki-tô đến thế gian, Người chính là dấu chứng sống động cho lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người. Lúc này đây, Thiên Chúa không còn dùng con rắn, hay bất kỳ biểu tượng nào khác để nói lên lòng thương xót của Người; mà dùng chính cái chết của Con Ngài mà cứu chữa chúng ta.
Phần chúng ta, một khi được cứu sống chúng ta được mời gọi dứt khoát từ bỏ bóng đêm của tội lỗi, sống theo sự thật, bước vào ánh sáng của sự sống. Vì ai là điều ác thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng,…Nhưng kẻ sống theo sự thật thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.(x Ga,21)

Nói tóm lại, Thiên Chúa là Đấng Công Bình nên con người phải trả lại công bằng cho Người vì những lỗi phạm và vì đã phá vỡ giao ước. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng là Đấng đầy lòng xót thương, Người không bỏ rơi con người, mà qua Đức Ki-tô, chính do ân sủng và lòng tin mà con người đã được cứu độ; đây không phải là bởi sức con người mà là một ân huệ của Thiên Chúa. (x Ep 2,8)
Vì vậy, nhận được ân huệ nhưng không này, không lẽ chúng ta cứ mãi cứng đầu cứng cổ vậy sao, thưa cộng đoàn? Mùa Chay thánh đã gần hết, lời mời họi sám hối vẫn còn văng vẳng bên tai chúng ta. Không có lý do nào mà chúng ta lại không ăn năn thống hối trở về với Thiên Chúa. Vì đơn giản, có Chúa là có tất cả, là thiên đàng, mất Chúa là mất tất cả, là lưu đầy, là hỏa ngục. Amen

MAPHUC,SSS


Thứ Tư, 7 tháng 3, 2018

Thứ Sáu tuần III Mùa Chay Hs 14,2-10; Mc 12,28b-34 TÌNH YÊU TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

Thứ Sáu tuần III Mùa Chay
Hs 14,2-10; Mc 12,28b-34

Dẫn đầu lễ
“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi…ngươi phải yêu người thân cận như chính mình ngươi”. Chúa Giêsu đã trả lời cho thắc mắc cho các kinh sư như thế khi họ hỏi Người giới răn hàng đầu là giới răn gì.
Ngày hôm nay, Chúa cũng trả lời với chúng ta như thế trong đời sống của mình. Đặc biệt là những ai đang chọn cho mình đời sống gia đình thì lời mời gọi đó càng khẩn thiết hơn bao giờ hết.
Dâng Thánh lễ này chúng ta ý thức lại đời sống của mình.Tôi đã tương quan với Thiên Chúa và tương quan với tha nhân như thế nào? Liệu rằng tôi có mến Chúa yêu người hay chưa?
Giờ đây, chúng ta cùng thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành Mầu Nhiệm Thánh.


TÌNH YÊU TRONG
ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

Thứ Tư vừa rồi, Lời Chúa trình bày cho chúng ta Đức Giêsu đến không phải là để bãi bỏ Luật Cũ, nhưng là để kiện toàn. Vậy Chúa kiện toàn ở chỗ nào? Tin mừng hôm nay là một ví dụ điển hình về cách kiện toàn Luật Cũ của Chúa.
Tin Mừng chúng ta vừa nghe thuật lại những người trong nhóm luật sĩ hỏi Chúa Giêsu về điều răn nào trọng nhất? Câu trả lời của Chúa Giêsu được Ngài trích từ sách Đệ Nhị Luật: “Hỡi Israen, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi” ( Đnl 6,4 – 5). Tiếp theo, Chúa Giêsu lại nói về giới răn thứ hai được Người trích từ sách Lêvi: “Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi” (Lv 19, 18).
Nhiều người ngạc nhiên khi thấy điều răn đứng đầu này không có trong Mười Điều Răn mà ông Môsê đã truyền lại cho Ítraen trong sa mạc. Bởi Chúa Giêsu đã kết hợp hai điều răn hoàn toàn khác nhau trong hai mối tương quan. Đây chính là điều Đức Giêsu đã kiện toàn Luật Cũ. Bởi khi trả lời cho các luật sĩ như thế, Chúa Giêsu dạy cho họ biết không có giới răn nào quan trọng hơn giới răn “mến Chúa yêu người”. Hay nói cách khác không thể yêu Thiên Chúa vô hình nếu không biết yêu tha nhân đang hiện diện cách hữu hình và ngược lại. Cả hai giới răn này đều quan trọng như nhau và được tóm thành một: “Mến Chúa yêu người!”
“Mến Chúa yêu người” – là giới răn quan trọng nhất, ai trong chúng ta cũng biết rõ điều ấy. Nhưng trong thực hành lại rất khó. Chúng ta có thể yêu Thiên Chúa, nhưng lại không thể hòa hợp với anh chị em. Đòi hỏi yêu người lại càng khó hơn nữa nếu chúng ta là những người đang sống trong đời sống gia đình.
Nhiều người cứ tưởng rằng đời sống gia đình được xây dựng trên tình yêu, một túp lều tranh hai quả tim vàng. Do vậy, nhiều người luôn mường tượng ra một viễn cảnh tương lai cho gia đình của mình sẽ rất bình an và hạnh phúc. Tuy nhiên, trên thực tế lại không thế. Đã có rất nhiều gia đình tan nát, hoặc bất an, hoặc lúc nào cũng đau đáu … vì không thể chấp nhận người vợ hoặc chồng, chứ đừng nói đến yêu như yêu bản thân mình.
Sở dĩ nhiều người không chấp nhận người vợ hay chồng mình hoặc khó có thể yêu người vợ hoặc chồng như xưa vì khi sống trong cùng một mái nhà là vì chưa hiểu được tình yêu trong gia đình là như thế nào?
1. Trước hết, tình yêu trong đời sống gia đình bắt nguồn từ tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa.
Chính Ba Ngôi là suối nguồn tình yêu. Tình yêu ấy được thể hiện trong tương quan Cha-Con-Thánh Thần. Người sống đời gia đình sẽ thông phần tình yêu ấy cách đặc biệt nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần và mỗi người chỉ có thể sống mầu nhiệm Ba Ngôi trong cộng đoàn khi yêu thương bằng chính tình yêu của Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần được đổ xuống trong lòng: “vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần mà Ngài đã ban cho chúng ta” (Rm 5,5).
Do vậy, đời sống gia đình trước hết là chúng ta đang tái hiện lại Tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa. Tình yêu đã có từ đời đời.

2. Kết đến, đời sống gia đình luôn được mời gọi phải sống trọn vẹn giới răn yêu thương.

Dẫu biết rằng, đời sống gia đình dựa trên tình yêu, nhưng gia đình không phải chỉ có những con người tốt lành, đồng thuận nhưng còn có sự hiện diện của trăm ngàn sự khác biệt: văn hóa vùng miền, tuổi tác, môi trường, não trạng suy nghĩ, sự khác biệt giữa các thế hệ ông bà, cha mẹ, con cái…chính vì thế, để có thể yêu được tất cả mọi người trong gia đình cũng thật khó.
Chính sự khó khăn ấy làm cho đời sống gia đình có ý nghĩa vì có cơ hội để sống trọn vẹn tinh thần giới răn yêu thương của Chúa. Thánh Gioan đã nói rõ điều ấy, làm sao chúng ta có thể yêu Thiên Chúa vô hình nếu không thể yêu được anh em đang hiện diện cách hữu hình ngay bên cạnh chúng ta. “Nếu ai nói tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình thì người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1Ga 4, 20)
Do vậy, một khi yêu được mọi người trong gia đình của mình là chúng ta đã sống trọn vẹn giới răn yêu thương của Chúa đòi hỏi.

3. Sau cùng, cùng đích của tình yêu trong đời sống gia đình là làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa và sống thực tại Nước Trời ngay ở đời này.
Trước hết, tình yêu trong gia đình làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa. Bởi trong Thiên Chúa thì không còn bất kỳ một sự phân biệt nào Hy lạp hay Do thái, man di mọi rợ, nô lệ hay tự do …(Cl 3,11). Thiên Chúa yêu thương toàn thể mọi người và không loại trừ ai. Chính vì thế Đức Giêsu đã dùng cái chết của mình để cứu độ toàn thể nhân loại.
Kế đến, khi sống trọn vẹn tình yêu trong gia đình là chúng ta đang sống hạnh phúc Nước Trời ngay ở đời này. Thật vậy, một mặt đời sống gia đình phải là họa ảnh của tình yêu Ba Ngôi giữa lòng trần gian, đồng thời, chính nếp sống gia đình sẽ giúp mỗi thành viên sẽ sống cách trọn hảo hơn. Vì thế, nhiệm vụ của người sống đời gia đình là sống và làm chứng cho tình yêu ấy chính nơi đời sống trong gia đình của mình. Cũng vì thế mà không ngoa khi nói rằng sống đời gia đình là chúng ta đang nếm trước đời sống mai sau.

Nói tóm lại, giới răn “mến Chúa yêu người” là đòi hỏi cao nhất trong đời sống của chúng ta. Không những thế, đó còn là một thách đố cho những ai đã lỡ chọn cho mình đời sống gia đình. Bởi đời sống gia đình không cho phép chúng ta sống ích kỷ mà phải biết rộng lòng yêu mến mọi người. Nhất là các thành viên trong gia đình của mình. Một khi chúng ta sống được giới răn mến Chúa yêu người này là chúng ta đang làm chứng cho tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa mà còn được nếm thử đời sống thiên đàng mà ai cũng ao ước sau khi ra khỏi cuộc đời này.
Hiểu được như thế, vậy chúng ta còn chần chờ gì mà không mở rộng lòng yêu mến mọi người trong gia đình của mình. Thiên đàng không ở đâu xa cả, thiên đàng ngay trong gia đình chúng ta này, ngay dưới mái nhà một khi chúng ta biết bỏ đi mọi rào cản và ngăn cách để mến yêu nhau.

MAPHUC,SSS


Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2018

Thứ Ba tuần III Mùa Chay Đn 3,25.34-34; Mt 18,21-35 THA THỨ TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

Thứ Ba tuần III Mùa Chay
Đn 3,25.34-34; Mt 18,21-35

Dẫn đầu lễ
Kính thưa cộng đoàn! “Thầy không bảo là đến bảy lần nhưng là bảy mươi lần bảy”. Chúa Giêsu đã trả lời cho thắc mắc của Phêrô về sự tha thứ như thế. Nghĩa là tha thứ không thể tính được số lần mà phải tha thứ mãi mãi. Qua đó, Chúa cũng mời gọi chúng ta cũng hãy biết tha thứ như Cha trên trời luôn tha thứ cho chúng ta.
Dâng Thánh lễ này chúng ta ý thức lại thân phận tội lỗi của chúng ta. Đã có quá nhiều lần chúng ta xúc phạm đến Thiên Chúa mà Chúa đã tha thứ cho chúng ta thì chùng ta cũng hãy biết tha thứ cho tha nhân như vậy.
Giờ đây, chúng ta cùng thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành Mầu Nhiệm Thánh.

THA THỨ
TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH
Kính thưa cộng đoàn! Tha thứ nghĩa là hành động bỏ qua lỗi lầm của một người. Trong Kinh Thánh, từ Hy Lạp được dịch là “tha thứ” có nghĩa đen là “buông ra”, giống như khi một người không đòi lại số tiền mình đã cho mượn. Chúa Giêsu đã dùng cách so sánh này khi ngài dạy các môn đồ cầu nguyện: “Xin tha tội chúng con, vì chúng con cũng tha thứ mọi người có lỗi [người mắc nợ] với mình” (Lc 11,4). Tương tự, trong dụ ngôn về người đầy tớ không thương xót mà Tin mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu ví sự tha thứ với việc xóa nợ.(Mt 18, 23-35). Và Người nhấn mạnh: “Thầy không bảo là tha thứ bảy lần nhưng là bảy mươi lần bảy.” (Mt 18,22)

Tuy nhiên, từ trước đến nay, mỗi khi nói về tha thứ chúng ta thường có một khái niệm chung chung. Vì thế, nhiều khi chúng ta nghe rất nhiều cần phải biết tha thứ như Chúa đã tha thứ cho chúng ta, nhưng trên thực tế chúng ta chẳng biết phải tha thứ như thế nào. Chính vì thế, xin được chia sẻ một ý nhỏ của sự tha thứ. Đó là THA THỨ TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH.


1. Trước hết, trong đời sống gia đình rất khó để nói lời tha thứ.
Trong đời sống gia đình, những tưởng chúng ta sẽ dễ tha thứ hơn vì dù sao đó cũng là tình cảm vợ chồng con cái, ông bà cha mẹ anh chị em máu mủ thịt thà. Nhưng trên thực tế có thể nói tha thứ trong đời sống gia đình rất khó.

Tại sao tha thứ trong đời sống gia đình lại khó?

Thưa là vì đời sống gia đình dựa trên tình yêu. Chính vì yêu nên chúng ta đã cởi bỏ tất cả những rào cản phòng vệ của chúng ta. Vậy nên một khi bị phản bội, bị làm nhục, bị lên án, bị hiểu lầm… bởi chính những người thân trong gia đình, chúng ta bị tổn thương rất lớn, bởi vì lớp phòng vệ không còn. Chính tổn thương lớn đó mà chúng ta khó mà có thể tha thứ được. Thế nên càng yêu nhiều chúng ta càng dễ bị tổn thương và càng khó để tha thứ.

Có những người chồng, người vợ lỡ có một sai phạm gì đó trong tương quan vợ chồng, nhất là chuyện chia chăn sẻ gối với người thứ ba. Có thể chúng ta nói là chúng ta tha thứ, nhưng thật ra, cho dù người có lỗi đã ăn năn thống hối và sự việc diễn ra rất lâu, nhưng hễ mỗi khi có mâu thuẫn, gây gỗ gì đó trong gia đình là y như rằng chúng ta lôi chuyện cũ ra bới móc, chửi rủa.

2. Kế đến, hãy tha thứ vì Thiên Chúa đã tha cho chúng ta trước.

Thật vậy, chúng ta có tha thứ cho những người thương yêu trong đời sống gia đình cũng đâu đáng gì so với món nợ mà Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Trong khi Thiên Chúa không những tha thứ mà còn chết để chuộc tội chúng ta, và Người không đòi bất kỳ một quyền lợi nào, thậm chí Người dường như quên hết tất cả; thì chúng ta nói tha thứ đấy, nhưng trên thực tế lòng chúng ta vẫn còn đau đáu nỗi đau bị phản bội, bị tổn thương. Thế nên cũng như tên đầy tớ bất nhân, lâu chúng ta lại lôi chuyện cũ, những tai nạn, những lầm lỡ, những thiếu xót… của những người thân yêu ra để dày vò, chửi rủa và đòi lại công bằng. Vâng! Thưa cộng đoàn, nếu chúng ta cư xử như thế chẳng khác nào chúng ta hành xử như những tên đầy tớ độc ác trong Tin mừng. Hãy nhớ rằng chính Chúa đã tha thứ cho chúng ta trước, và Người đã quên tất cả và không bao giờ Người nhắc lại. Hãy học gương này của Chúa, nếu vợ, chồng hay con cái đã lỡ gây ra lầm lỗi mà đã ăn năn, thì sau khi chúng ta tha thứ, hãy quên đi quá khứ. Vì chỉ có quên đi chúng ta mới có sự tha thứ thật sự.

3. Sau cùng: Hãy tha thứ vì tình yêu.

Nếu như vì yêu, chúng ta dễ bị tổn thương do đó khó tha thứ thì cũng vì yêu mà chúng ta hãy tha thứ cho nhau. Thật vậy, Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta. Chúa vì quá yêu loài người, dám chấp nhận cởi bỏ tất cả thiên tính của Người để trở nên một người phàm, và không hề có bất kỳ một phòng vệ nào cho bản thân mình. Thế nên, khi bị phản bội, Chúa cũng đã rất đau khổ, tan nát cõi lòng đến nỗi “tầm hồn Thầy buồn rầu đến chết được”(Mt 26, 38). Tuy nhiên, ngay đỉnh cao của đau khổ và cái chết, ngay trên thập giá, Người lại cất lên được hai tiếng tha thứ cách trọn vẹn: “Lạy Cha xin tha cho họ và họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Do đó, chúng ta cũng được mời gọi tha thứ như Chúa đã nêu gương.
Cũng vậy, trong việc mời gọi hãy biết tha thứ trong đời sống gia đình, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng nói rõ: “Tha thứ giúp cho gia đình vững mạnh trong tình yêu và qua đó, làm cho xã hội có thêm tình yêu và nhân bản. Nó là đá tảng vững chắc để xây dựng đời sống của chúng ta và là một dấu chứng mạnh mẽ, hùng hồn của người môn đệ Đức Kitô trong việc tuân theo thánh ý Thiên Chúa Cha.” (ĐGH Phanxicô). Và ngài nhấn mạnh chúng ta phải tha thứ tức khăc chứ đừng chần chừ, bởi “nếu chúng ta để quá lâu,  mọi việc càng trở nên khó khăn hơn. Và nếu có một biện pháp đơn giản thì đừng để đến cuối ngày mà chưa xin lỗi, chưa tha lỗi, cho dù là giữa cha mẹ và con cái, hoặc anh chị em với nhau. Không cần phải nói điều gì to tát. Một cái bắt tay cũng đủ. Và cũng vậy, gia đình có thể trở nên vững mạnh hơn, nếu chúng ta dám dẹp bỏ những sai lỗi lớn, nhỏ của chúng ta”. (ĐGH Phanxicô)
Hơn nữa, tha thứ không có nghĩa là chúng ta dung túng cho tội lỗi của người khác, nhưng tha thứ là lúc chúng ta mở ra cho người khác và cho chính chúng ta một cơ hội để sửa đổi để làm lại. Vì biết đâu, trong tương lai, chính chúng ta lại là người có lỗi và cần được tha thứ.

Nói tóm lại, không có sự tha thứ chung chung, chỉ có tha thứ cách cụ thể. Hôm nay, Chúa mời gọi và nhắc nhở chúng ta phải biết tha thứ trong đời sống gia đình. Tha thứ trong gia đình tưởng dễ nhưng lại rất khó. Nhưng khó không có nghĩa là không thể làm được. Chính Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về sự tha thứ.
Mùa Chay, Chúa mời gọi chúng ta ăn năn thống hối trở về với Thiên Chúa và làm hòa với tha nhân, vậy thì hôm nay đây chúng ta hãy thực hành điều đó qua việc làm hòa với các thành viên trong gia đình của mình. Không cần phải làm những gì to tát, hay những lời nói sáo rỗng, chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt và nhất là một hy sinh, một lời cầu nguyện cho những ai mà chúng ta cảm thấy chưa tha thứ được.


MAPHUC,SSS

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2018

Chúa Nhật III Mùa Chay Xh 20,1-17; 1Cr 1,22-25; Ga 2,13-25 CƠN THỊNH NỘ CỦA THIÊN CHÚA

Chúa Nhật  III Mùa Chay
Xh  20,1-17; 1Cr 1,22-25; Ga 2,13-25

Dẫn đầu lễ
Kính thưa cộng đoàn! Tin Mừng Chúa nhật III Mùa Chay hôm nay, phác họa cho chúng ta một chân dung hoàn toàn khác với Đức Giêsu mà chúng ta vẫn thường hay nghĩ đến. Một Đức Giêsu nóng giận, và nổi cơn thịnh nộ. Sỡ dĩ Chúa nóng giận là vì những người Do thái đã xem thường Thiên Chúa và Lề Luật của Người qua việc biến Đền Thờ - vốn là nơi thờ phượng Thiên Chúa thành nơi buôn thần bán thánh.
Dâng thánh lễ này chúng ta cầu xin Chúa thanh tẩy và thánh hóa chúng ta để thân xác và tâm hồn mỗi người chúng ta xứng đáng là đền thờ của Thiên Chúa Ba Ngôi .
Giờ đây, chúng ta cùng thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành Mầu Nhiệm Thánh.



CƠN THỊNH NỘ CỦA THIÊN CHÚA

Người xưa có câu: “thương thì cho roi cho vọt, ghét thì cho ngọt cho bùi.” Trong việc dạy con cái, nhiều khi cha mẹ hay nổi cáu, nhiều lúc phát điên lên vì con cái không chịu nghe lời dạy bảo của cha mẹ. Lắm lúc cha mẹ cũng dùng biện pháp cứng rắn, quất cho vài roi. Nhưng việc dùng biện pháp cứng rắn đó không phải là ghét bỏ con nhưng hơn hết, đó là tình yêu và trách nhiệm đối với con, sâu xa là muốn con nên người.
Cũng vậy, con người chúng ta trong tương quan với Thiên Chúa là Cha, lúc nào chúng ta cũng ca tụng Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, hiền lành và nhân từ, ấy vậy mà Tin mừng hôm nay lại cho chúng ta thấy một khuôn mặt hoàn toàn trái ngược. Một Đức Kitô tưởng chừng như hiền lành và giàu lòng thương xót ấy hôm nay bỗng trở nên “nổi điên” với chúng ta.

Tại sao Chúa Giêsu lại nóng giận như thế?

1. Trước hết, vì chúng ta không vâng nghe Lời Người.
Nhiều khi chúng ta cứ đổi lỗi cho nguyên tổ không tuân phục Thiên Chúa, đã ăn trái cấm khiến loài người phải đau khổ và phải chết. Thật ra, mỗi người chúng ta đã có quá nhiều lần bất phục tùng Thiên Chúa qua việc vi phạm giới răn của Người.
Thật vậy, Thiên Chúa luôn đi bước trước trong tương quan với con người, và vì muốn con người không sa ngã một lần nữa như tổ tiên xưa nên Người đã ban giới răn yêu thương để đưa con người về cõi sống. Giới răn đó Người đã ban qua trung gian mà Môsê trên núi Sinai và đã được Đức Kitô kiện toàn. Đó là Mười Điều Răn như ngày hôm nay chúng ta vẫn thường đọc trong các thánh lễ Chúa nhật. Bài đọc 1 trích sách Xuất Hành (Xh 20, 1-17) nhắc lại cho chúng ta điều đó.
Như vậy, Thiên Chúa rất mực yêu thương con người, không muốn con người phải đau khổ và phải chết như tổ tiên xưa nên Người đã ban Lề Luật để con người biết bỏ đường tà gian mà quay trở về với Thiên Chúa. Thế nhưng, con người ở bất kỳ giai đoạn nào trong dòng lịch sử nhân loại cũng luôn muốn gạt Thiên Chúa ra bên ngoài, bất phục tùng Người. Chính vì thế, Thiên Chúa đã nổi cơn thịnh nộ đánh phạt con người.

2. Kế đến, Chúa nóng giận là vì trách nhiệm đối với con người.

Cũng như cha mẹ có trách nhiệm với con cái của mình, nên nhiều khi phải dùng biện pháp mạnh để răn dạy con cái, Thiên Chúa cũng có trách nhiệm với con người, nên Người cũng có lúc nóng giận, nổi cơn thịnh nộ.
Tin mừng mở ra cho chúng ta quang cảnh ở Đền Thờ, vốn là nơi tôn thờ Thiên Chúa, nhưng nay đã trở thành nơi buôn bán: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà cha tôi thành nơi buôn bán.” (Ga 2, 16). Đức Giêsu nhẹ nhàng hiền lành là thế, nhưng hôm nay bỗng nổi điên chỉ vì những người Do thái quá ư là cứng đầu cứng cổ. Họ không chỉ không tuân giữ giới răn của Thiên Chúa mà còn biến đền thờ Chúa thành nơi buôn thần bán thánh. Vâng! Chính vì con người quá cứng đầu như thế nên Đức Giêsu đã dùng biện pháp mạnh để ranh dạy và cảnh cáo dân chúng: “Người lấy dây làm roi, mà xua đuổi tất cả chiên cũng như bò, ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra và lật nhào bàn ghế của họ.” (Ga 2, 15)
Như vậy, cũng như cha mẹ có trách nhiệm dạy dỗ con cái nên nhiều khi nóng giận dùng roi vọt thì Thiên Chúa cũng nóng giận và nổi cơn thịnh nộ khi con người quá cừng đầu không tuân phục giới răn của Người.

3. Sau cùng, Chúa nóng giận là vì yêu thương chúng ta.

Trong thư gửi tín hữu Hípri có nói: “Anh em đã quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như những người con: Con ơi đừng coi nhẹ Lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy người ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy.” (Hr 12,5-7)
Thiên Chúa sửa dạy chúng ta không chỉ dừng lại ở những cử chỉ hiền lành, âu yếm, hoặc nóng giận nhưng trên hết đó là vì tình yêu thương vô bờ bến của người dành cho chúng ta. Vì thế, Đức Giêsu đã dùng chính cái chết của mình để cứu chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi, mang lại cho chúng ta sự sống đời đời. Chính hành động này, Đức Giêsu đã thể hiện tình yêu trọn vẹn của Thiên Chúa đối với chúng ta.
Thật vậy, người Do thái, hay Hy lạp không thấu hiểu được điều này nên cho rằng Chúa chúng ta chịu chết trên thập giá là quá điên rồ và không thể chấp nhận được, nhưng thánh Phaolô đã xác tín và khẳng định trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô rằng: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.”

Nói tóm lại, chỉ vì con người quá cứng đầu cứng cổ nên Thiên Chúa mới dùng biện pháp mạnh để răn dạy con người. Tuy nhiên, Thiên Chúa có nóng giận, có nổi điên cũng là vì trách nhiệm và tình yêu thương vô bờ bến đối với con người. Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ nhưng không phải giết chóc, hủy diệt nhưng là tỏ lòng thương xót và cứu vớt con người.
Cộng đoàn phụng vụ thân mến! Kể từ đầu Mùa Chay đến nay, Chúa luôn mời gọi con người ăn năn sám hối trở về với Chúa cách nhẹ nhàng, êm dịu. Nhưng hôm nay đây, bởi vì nói nhẹ không nghe, và dường như chúng ta vốn “thân lừa ưu nặng” nên Chúa đã phải “nổi điên” lên với chúng ta, dùng biện pháp cứng rắn, dùng roi để kêu gọi chúng ta ăn năn thống hối trở về với Thiên Chúa. Tuy nhiên Người nóng giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương thương suốt cả đời. (Tv 29,6). Thiên Chúa có nóng giận và trừng phạt chúng ta như thế đấy, nhưng cũng chỉ vì Người quá yêu thương chúng ta mà thôi.
Vậy chúng ta còn mãi ù lì như thế sao? Hãy trở về với Thiên Chúa, ăn năn thống hối, làm hòa với Thiên Chúa và tha nhân qua lối sống mới, một lối sống từ bỏ và chết đi con người cũ, con người của tội lỗi.

MA.PHUC,SSS



Thứ Năm, 1 tháng 3, 2018

Thứ Sáu tuần II Mùa Chay Gr 18,18-20; Mt 20,17-28 LÒNG ĐỐ KỴ

Thứ Sáu tuần II Mùa Chay
Gr 18,18-20; Mt 20,17-28

Dẫn đầu lễ
Kính thưa cộng đoàn! Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu kể cho các tông đồ dụ ngôn những tá điền sát nhân. Họ vốn chỉ là những tá điền hiền lành, nhưng vì lòng đố kỵ họ đã trở thành những kẻ sát nhân.
Một trong những nguyên nhân gây ra đổ vỡ trong đời sống cộng đoàn và đặc biệt là trong mối tương quan với tha nhân, hàng xóm láng giềng là  do ngày nay có nhiều tu sĩ bị lòng đố kỵ làm chủ. Đời sống xã hội dễ cho ta thấy có nhiều người hơn, thua ta thứ này thứ kia. Đó là điều dễ hiểu, nhưng với những người vốn có lòng đố kỵ thì lại ganh ghét, thậm chí là tìm cách tiêu diệt người khác.
Dâng thánh lễ này chúng ta cầu xin Chúa cho mỗi người chúng ta bỏ đi lòng đố kỵ, không chỉ biết khiêm nhường nhìn nhận những điều hay điều tốt của bản thân mình mà cũng biết trân trọng những điều cao đẹp của người khác nữa.
Giờ đây, chúng ta cùng thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.

LÒNG ĐỐ KỴ
Bài Tin Mừng hôm nay có lẽ chúng ta đã nghe rất nhiều lần và khá hiểu về ý nghĩa của dụ ngôn “Những tá điền sát nhân” (Mt 21, 33-43). Những tá điền vườn nho ở đây là những nhà lãnh đạo Do thái giáo. Tại sao họ lại trở thành kẻ sát nhân? Thưa là do lòng đố kỵ. Chính lòng đố kỵ đã khiến tâm hồn những tá điền thành những kẻ ích kỷ, chai lỳ và cuối cùng dẫn đến hành động giết người. Thật vậy, những người Pharisiêu và các kinh sư vốn trọng lề luật và thượng tôn giai cấp của mình, họ muốn họ là người lãnh đạo và có mọi quyền hành cũng như lợi ích về vật chất ở địa vị của họ. Nên khi có các ngôn sứ, và đặc biệt là Đức Giêsu đến nói về Thiên Chúa, lên án những hành vi của họ thì lòng đố kỵ đã khiến họ có những suy nghĩ và hành động sai lầm.
Lòng đố kỵ đó vẫn tồn tại nhan nhãn trong đời sống của con người ngày nay. Đặc biệt hơn trong các tương quan với tha nhân. Sau đây là 3 dấu hiệu nhận biết một người có lòng đố kỵ:

1. Khó chịu khi ai đó hơn mình
Một người có lòng hay đố kỵ biểu hiện dễ thấy nhất của họ là luôn khó chịu khi thấy ai đó hơn mình. Khi nghe ai đó có tin vui thì thay vì chúc mừng, họ lại cảm thấy không thoải mái, ganh ghét và tức giận. Cụ thể trong bài đọc 1 cho chúng ta hiểu rõ điều đó. Bởi vì ông Giacop thương ông Giuse hơn các con khác vì ông đã già mới sinh được cậu. Chính vì thế, các anh em nhà Giuse khó chịu với ông vì ông được cha yêu thương hơn. (St 37,3-4).
Trong đời sống thường ngày, điều này rất dễ xảy ra khi một ai đó được nhiều lợi thế hơn mình. Điều này đúng với hầu hết với tâm lý bình thường của con người trong xã hội ngày nay. Ví dụ khi nghe bạn bè hay đồng nghiệp có công việc mới với lương cao hay được thăng chức họ sẽ có suy nghĩ mong muốn điều tồi tệ đến với người đó cho thỏa cơn ganh ghét vì sao ta không bằng họ và sợ họ hơn ta. Thậm chí người ganh tị thường cảm thấy hả hê và vui sướng khi người khác sa cơ hay vấp ngã.
2. Dấu hiệu thứ hai của một người có lòng đố kỵ chính là: Luôn soi mói, so sánh, dẫn đến thái độ ghen ghét, nói xấu thậm chí tìm cách tiêu diệt người khác.
Vâng! Những người này luôn “ngó nghiêng, ngó dọc” từng hành động và việc làm của người mà họ cảm thấy đố kỵ. Đặc biệt trong đời sống thường ngày, họ cũng thường hay nhòm ngó sự thành đạt, hạnh phúc, nhan sắc… của người khác sinh ra lòng tức tối rồi đắm chìm với những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực như buồn bực, lo lắng, căm ghét và cảm giác tự ti. Hơn thế nữa, họ luôn chăm chăm vào những khuyết điểm hay lỗi lầm của người khác để phán xét nhằm giảm giá trị của người đó với mọi người. Cũng chính vì lòng đố kỵ mà các anh của Giuse đã lập mưu loại trừ ông. “bây giờ, nào ta giết và ném nó xuống một cái giếng…” (St 37,18)
Trong đời sống thường ngày thì không đến nỗi giết người, nhưng chính vì sự đố kỵ che mắt, họ muốn thấy bản thân tốt đẹp hơn người khác và cũng vì không có lòng thương xót, nên trong nhiều trường hợp họ sẽ đem tật xấu của người khác ra bới móc, lăng mạ, làm trò cười để hả hê lòng ganh ghét của bản thân.
3. Dấu hiệu thứ ba của những người có lòng đố kỵ chính là: Không công nhận thành quả của người khác
Mặc dù đã nhiều lần Thiên Chúa sai các ngôn sứ và thậm chí là chính Con Thiên Chúa đến để cảnh cáo dân và làm bao nhiêu việc tốt cho dân. Thậm chí chính Con Thiên Chúa đến, đã chết để cứu chuộc dân nhưng vì lòng đố kỵ, thượng tôn nghĩ mình là nhất nên đã không công nhận và loại trừ các ngôn sứ và chính Con Thiên Chúa làm người.
Thật vậy, những người có lòng đố kỵ sẽ không công nhận thành quả của người khác. Vì vậy khi đối mặt với sự thành đạt hay hạnh phúc của người khác, họ sẽ có thái độ khinh thường, phản pháo, thậm chí nói những điều làm mất vui hay làm người khác cảm thấy tổn thương.
Như vậy, dấu hiệu để nhận biết một người có lòng đố kỵ thể hiện ở 3 khía cạnh: (1) Khó chịu khi ai đó hơn mình, (2) Luôn soi mói, so sánh, dẫn đến thái độ ghen ghét, nói xấu thậm chí tìm cách tiêu diệt người khác. (3) Không công nhận thành quả của người khác.
Chính vì có lòng đố kỵ nên các kinh sư và Phari siêu đã đánh mất phần phúc của mình là hạnh phúc trong Nước Trời: “Bởi đó tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.” (Mt21,43)
Thật vậy, những người có lòng đố kỵ sẽ không thể tiến triển đời sống nội tâm, hậu quả là những bất an sẽ đến, và dễ đánh mất niềm vui trong đời sống. Hoặc những người đó sẽ là đầu mối gây chia rẽ, khiến cộng đoàn luôn bất an và xáo trộn.
Lòng đố kỵ nguy hiểm như vậy đấy, không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn làm cho chúng ta đánh mất chính mình, qua lối sống ích kỷ, bảo thủ, ngờ vực, ghen ghét mà còn phá đi những mối quan hệ với tha nhân.
Như vậy, qua Lời Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta có cơ hội nhìn lại chính mình. Tôi có đang đố kỵ với ai đó hay không? Mùa chay, Chúa không chỉ mời gọi chúng ta là hòa với Chúa mà còn biết làm hòa với tha nhân qua việc không chỉ biết khiêm nhường nhìn nhận những điều hay điều tốt của bản thân mình mà cũng biết trân trọng những điều cao đẹp của người khác nữa. Amen

MA.PHUC,SSS



Tùy bút NHỮNG KẺ THA PHƯƠNG CỦA THỜI ĐẠI

Tùy bút NHỮNG KẺ THA PHƯƠNG CỦA THỜI ĐẠI ---|sss|--- Con đã ngồi suốt nhiều giờ trong tòa giải tội ở Giáo xứ Thánh Gia, Berlin, Đức qu...