Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

Chập Chững Theo Chúa




Nếu như cha xứ, Ban Hành Giáo và mọi người đã tạo điều kiện rất tốt cho các anh chị em dự tòng học đạo và giữ đạo, nếu như anh chị em dự tòng nhiều người rất thích thú, tha thiết theo đạo thì tại sao tỷ lệ bỏ đạo sau khi rửa tội lại quá lớn? Phải chăng giáo lý Công giáo chỉ là một mớ lý thuyết hấp dẫn nhưng không thực tế?

Trên đây là suy nghĩ của chúng tôi sau khi đến với giáo xứ Khiết Tâm, giáo phận Sài Gòn vào buổi học khai giảng các lớp giáo lý dự tòng và hôn nhân, khóa I, năm học 2014. Buổi học đầu tiên của khóa học giáo lý dự tòng 2014 được bắt đầu lúc 19g30 và kết thúc lúc 21g00, ngày 22/2/2014, tại Nhà Mục Vụ, giáo xứ Khiết Tâm, giáo phận Sài Gòn.
Rất đông anh chị em dự tòng đã có mặt đầy đủ và đúng giờ. Được biết, trước đó một tuần, những ai muốn học giáo lý dự tòng đã phải đăng ký tên và đóng lệ phí. Tuy nhiên, trong ngày khai giảng vẫn có rất đông các bạn trẻ đến đăng ký tên. Điều đó khiến cho các nhân viên ở văn phòng mục vụ rất vất vả mới có thể sắp xếp và ổn định lớp cho các anh chị em dự tòng.
Với 4 lớp dự tòng và mỗi lớp trên 40 bạn, không khí tại Nhà Mục Vụ trở nên náo nhiệt khác thường. Sau khi nhận lớp, anh chị em dự tòng nhanh chóng ổn định chỗ ngồi và bước vào tiết học đầu tiên. Rảo quanh một lượt, chúng tôi nhận thấy hầu hết cả người giảng dạy – quý tu sĩ Dòng Thánh Thể và học viên đã nhanh chóng làm quen và hồ hởi với buổi học đầu tiên.
Khóa học sẽ được kéo dài trong 6 tháng, bắt đầu từ 2/2014 đến tháng 8/2014.


1.      Một khởi đầu thuận lợi cho hành trình theo Chúa

Chúng tôi đến giáo xứ Khiết Tâm, tọa lạc tại số 15, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, vào những ngày cuối của Mùa Chay, 2014. Những ngày này, không khí trở nên ngột ngạt hơn giữa những tháng nóng nhất trong năm. Chúng tôi bước vào văn phòng Mục vụ giáo xứ Khiết Tâm với một sự ngạc nhiên không nhỏ. Đó là một gian phòng tầng trệt sáng, rộng, đầy đủ tiện nghi, vài bức tranh và mấy bình hoa khô trang trí làm cho bầu khí căn phòng thêm vui tươi. Thêm vào đó, các cô chú làm ở văn phòng Mục Vụ Di Dân luôn có thái độ niềm nở vui tươi với mọi người, đặc biệt với các học viên mặc dầu rất bận rộn với công việc sổ sách. Rất đông các bạn trẻ lui tới khu vực này, kẻ ra, người vào, cười nói rộn rã. Thăm hỏi một vài bạn trẻ đang cầm trên tay tờ giấy đăng ký, chúng tôi mới biết các bạn đến đăng ký học giáo lý dự tòng và hôn nhân. Mặc dầu đã được thông báo phải đăng ký học trước ngày khai giảng một tuần, nhưng vẫn có rất đông các bạn trẻ đến đăng ký học vào ngày này.
Rảo quanh một vòng khu nhà Mục vụ, chúng tôi thấy có nhiều phòng học được trang bị đầy đủ tiên nghi cho việc giảng dạy và học tập. Nhiều phòng còn có cả máy lạnh và ti vi. Với hơn 20 phòng học và các phòng chức năng, nhà Mục vụ giáo xứ Khiết Tâm có thể đáp ứng tốt nhu cầu học giáo lý dự tòng và hôn nhân không chỉ cho giáo dân trong giáo xứ mà phần lớn là giáo dân di dân từ các tỉnh thành trong cả nước đến đây làm ăn sinh sống. Điều đó đã cho thấy cha xứ và Ban Hành Giáo đã rất quan tâm đến công việc mục vụ của giáo xứ. Trước giờ khai giảng, bác I-nha-xi-ô Vũ Văn Sức, trưởng phòng Mục Vụ Giáo Lý Dự Tòng và Hôn Nhân cho biết: “Cha chánh xứ đã rất quan tâm đến những công việc mục vụ cho di dân, đặc biệt là việc giảng dạy giáo lý dự tòng và hôn nhân. Cha xứ tuy chỉ mới về xứ được hai năm, nhưng ngài đã có những hành động thiết thực nhằm đẩy mạnh cộng việc mục vụ di dân. Rõ ràng nhất là ngài đã cùng với Ban Hành Giáo vừa mới tu sửa lại nhà Mục vụ giáo xứ và đưa vào sử dụng vào ngày 1/1/2014, nhân ngày lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa – bổn mạng giáo xứ. Ngoài ra ngài còn tổ chức các buổi giao lưu, họp mặt cho các anh chị dự tòng và tân tòng. Hơn nữa, trong công việc giảng dạy giáo lý, ngài cũng dành riêng cho quý thầy Học Viện Dòng Thánh Thể. Theo ngài, quý thầy đã được trang bị những kiến thức thần học, cũng như kỹ năng sư phạm nên có thể giảng dạy tốt nhất cho anh chị em dự tòng.”
Nhiều học viên lần đầu đến với các lớp học của giáo xứ đã rất hài lòng về cơ sở vật chất cũng như người giảng dạy. Bạn Đỗ Nhật Tân, quê Bình Dương cho biết rất hài lòng với cung cách làm việc của các cô chú ở văn phòng. Với quý thầy, bạn Tân cho rằng: “quý thầy dạy học rất tâm huyết, nhiệt tình, và rất thân thiện với học viên.” Cũng cùng quan điểm trên, bạn Trần Thúy Hằng, quê Long An, 19 tuổi đã học giáo lý dự tòng được hơn ba tháng bày tỏ: “quý thầy rất vui và kiên nhẫn. Những gì chúng em không hiểu hỏi lại, các thầy cũng giảng giải thật chậm và đưa ra những ví dụ vui nhộn.” Thật vậy, với những gì chúng tôi chứng kiến trong ngày khai giảng các lớp giáo lý dự tòng và hôn nhân đã cho thấy cha xứ và Ban Hành Giáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các học viên. Phải nói rằng, anh chị em dự tòng đã có một khởi đầu thuận lợi trong những bước đầu theo Chúa.

2.      Vùng đất an lành, trù phú – nơi nối kết yêu thương

Mặc dù chỉ nằm ở vùng ven thành phố Hồ Chí Minh, thế nhưng giáo xứ Khiết Tâm là một giáo xứ luôn sầm uất và náo nhiệt. Sự sầm uất và náo nhiệt này là do giáo xứ nằm kề bên quốc lộ 1A, gần chợ và trường học. Ngoài ra, xung quanh giáo xứ còn có các khu công nghiệp lớn như: khu công nghiệp Sóng Thần 1, khu công nghiệp Sóng Thần 2, khu công nghiệp Bình Chiểu… Có thể nói, đây là vùng đất an lành và trù phú. Sự an lành và trù phú của vùng đất này trước hết là do tính cách của người dân nơi đây rất hiền hòa và thân thiện. Kế đến, vùng đất này trở nên trù phú một phần là do nằm kề bên trục đường chính đi các tỉnh miền Tây, thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, buôn bán, trao đổi hàng hóa; phần còn lại là do vùng đất này có các khu công nghiệp lớn nên đáp ứng được nhu cầu lao động của nhiều người, chủ yếu là lao động phổ thông. Bên cạnh đó, mức chi tiêu tại khu vực này cũng thấp hơn các khu vực xung quanh như trung tâm thành phố, Biên Hòa, Bình Dương… Chính vì thế, địa bàn giáo xứ và khu vực xung quanh đã thu hút rất nhiều di dân từ khắp các tỉnh thành trong cả nước đến đây làm ăn sinh sống.
Giáo xứ Khiết Tâm đã được Đức Cố Giám mục Phao-lô Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám mục Giáo phân Sài gòn ủy thác cho các cha Dòng Thánh Thể phụ trách từ năm 1971. Trải qua nhiều biến cố, đến nay các  cha Dòng Thánh Thể vẫn đang chăm sóc trên 5000 giáo dân chính thức. Ngoài ra còn có hơn 10.000 di dân Công giáo cũng thường xuyên sinh hoạt đạo đức tại giáo xứ. Đứng trước những tình thế mới của thời đại, quý cha Dòng Thánh Thể, từ Tu Nghị Tỉnh lần thứ nhất (2008) đã đặt mục vụ cho người di dân là một trong năm sứ vụ ưu tiên của Dòng. Đến nay, giáo xứ Khiết Tâm đã có những hoạt động cho người di dân như Thánh lễ Chúa Nhật dành cho di dân lúc 19g, thường xuyên mở các lớp giáo lý dự tòng, giáo lý hôn nhân, Lớp Giáo lý di dân Hiệp nhất, ca đoàn di dân…
Chính vì giáo xứ Khiết Tâm có khá đông giáo dân, kể cả giáo dân di dân, cũng như nằm ở vị trí thuận tiện, thêm vào đó khuôn viên nhà thờ giáo xứ có không gian rộng, thoáng, xung quanh được trồng nhiều cây dầu luôn tỏa bóng mát, nên nhà thờ giáo xứ thường xuyên là nơi tổ chức các đại hội, họp mặt từ cấp giáo phận, giáo hạt, hoặc các hoạt động của các cha Dòng Thánh Thể. Do vậy, nơi đây đã thu hút và trở thành nơi phụng tự cũng vui chơi giải trí không những cho giáo dân trong xứ mà còn cả những di dân sinh sống xung quanh. Vì thế, nhà thờ giáo xứ Khiết Tâm trở thành môi trường thuận lợi cho việc liên kết mọi người trong yêu thương.
Thật vậy, các sinh hoạt mục vụ của giáo xứ đã thu hút nhiều người, kể cả những người không cùng niềm tin Công giáo. Rất nhiều các cặp vợ chồng trong giáo xứ cho rằng họ quen biết nhau khi tham gia các hội đoàn hoặc các sinh hoạt của giáo xứ, từ đó tiến đến hôn nhân. Cũng vậy, nhiều bạn trẻ di dân Công giáo quen biết với những người ngoài Công giáo nơi công ty, nhà trọ, cộng với việc các bạn thường xuyên tham gia các sinh hoạt dành cho di dân của giáo xứ nên đã lôi kéo nhiều người ngoài Công Giáo theo học đạo. Tuy nhiên, phần lớn những người theo học đạo là do kết hôn. Bạn Nguyễn Tuấn Anh, 21 tuổi, quê ở Hà Nam cho biết: “Giáng sinh năm nào em cũng theo bạn đến đây, rất là vui và ý nghĩa. Bây giờ em đang theo học giáo lý dự tòng sau đó là giáo lý hôn nhân, kéo dài trong 9 tháng, nhưng em thấy vui vì mình được theo đạo.” Khi được chúng tôi đề cập đến lý do theo đạo thì bạn Nguyễn Thị Phương Oanh, quê Phú Thọ, 26 tuổi cho biết: “Em theo đạo vì trước đây đã có cảm tình với đạo, sau này quen người Công giáo nên khi theo đạo cảm thấy thích thú.”. Đồng cảm như trên, chị Hoàng Ngọc Mai, quê Thanh Hóa bày tỏ: “Mọi người Công giáo rất thân ái và đoàn kết. Tôi đã có cảm tình với đạo Chúa, nên khi người yêu của tôi nói tôi học đạo là tôi đồng ý liền.” Còn bạn Nguyễn Thị Quỳnh Như, quê Đồng Tháp, sinh năm 1991 là một trong số ít người theo đạo không do kết hôn đã giải bày cảm xúc: “Con được ngồi học giáo lý như thế này là hạnh phúc, nhưng con nghĩ con sẽ hạnh phúc gấp bội nếu được làm con Chúa.”

3.      Những thách đố giữa đời làm chao đảo bước chân
            Mặc dầu đã có những bước khởi đầu thuận lợi, thế nhưng cuộc sống của những người di dân tạm bợ, nay đây mai đó đã khiến cho rất nhiều anh chị em tân tòng không đứng vững trong đức tin. Điều đó cũng góp phần không nhỏ khiến các cặp hôn nhân dị giáo đỗ vở. Phần lớn số tân tòng bỏ đạo là do gặp phải những khủng hoảng về những khó khăn trong cuộc sống, về đời sống gia đình…, đặc biệt khủng hoảng về niềm tin đã khiến cho không ít các anh chị em dự tòng bỏ đạo chỉ sau một thời gian ngắn theo đạo. Bác I-nha-xi-ô Vũ Văn Sức là người có kinh nghiệm lâu năm trong công việc văn phòng giáo lý dự tòng bày tỏ: Theo đạo tự tâm huyết thì hiếm, đa số theo đạo là do lấy vợ, hoặc lấy chồng. Nếu có Chúa Thánh Thần soi sáng thì có thể giữ đạo được, nhưng đa số vấp ngã giữa đường vì những lý do khó khăn trong cuộc sống.” Một bác giữ cổng, bảo vệ Nhà Thờ và Nhà Mục Vụ cho hay: “Người giữ đạo được hiếm lắm thầy ơi! Hồi tôi còn dạy giáo lý, nhiều đứa nhờ tôi cầm đầu, có đến mấy chục đứa, nhưng hiện giờ giữ đạo được chắc chưa tới mười đứa.” Cũng cùng quan điểm trên, cha Phê-rô Nguyễn Thế Trịnh, SSS - giám đốc thỉnh sinh Dòng Thánh Thể - cho rằng tỉ lệ bỏ đạo sau khi rửa tội khoảng 60 đến 70 phần trăm.
            Tìm hiểu về nguyên nhân bỏ đạo của anh chị em tân tòng chúng tôi thấy rằng bên cạnh những thuận lợi mà cha xứ cũng như Ban Hành Giáo cố gắng giúp cho anh chị em dự tòng và tân tòng thì vẫn còn rất nhiều khó khăn. Khó khăn thứ nhất là phần lớn các bạn trẻ theo học đạo để kết hôn, nên số đông đến học đạo cho hợp luật chứ không muốn theo đạo. Bạn Nguyễn Thị Phương Oanh, quê Phú Thọ, 26 tuổi cho hay: “Một số các bạn khác chỉ học đạo cho qua, vì để lập gia đình. Trong thâm tâm các bạn ấy thật sự không muốn theo đạo.” Còn bạn Phạm Văn Đồng , quê Nghệ An, 26 tuổi bày tỏ quan điểm: “Tôn giáo nào cũng không quan trọng, miễn là đời sống gia đình hòa hợp, hạnh phúc. Tôi theo đạo chỉ thuần túy vì lý do cưới vợ.”
            Kế đến, việc tiếp thu một giáo lý hoàn toàn mới lạ cũng góp phần khó khăn không nhỏ cho các học viên. Nói về những khó khăn trong việc giảng dạy Thầy Phê-rô Mai Quốc Anh,SSS thì cho rằng: “việc dạy dự tòng thì không khó, cái khó là cho họ được cảm thức đức tin.” Thật vậy, nhiều học viên không cảm nhận được đức tin hay hứng thú với việc học đạo, thậm chí rất nhiều bạn không biết cầu nguyện như thế nào. Chị Phạm Thị Thương, quê Thanh Hóa, 31 tuổi cho biết đã phải nỗ lực rất nhiều để chấp nhận giáo lý. Theo chị: “quả thật, giáo lý Công giáo có quá nhiều điều khó chấp nhận và khó hiểu.”
Ngoài ra vấn đề về thời gian cũng là một trong những khó khăn mà những người trong cuộc nêu lên. Thầy Đa-minh Nguyễn Hoàng Long, SSS cho biết: “thời gian học quá ngắn. Thêm vào đó, đa số các học viên là công nhân nên mỗi khi tăng ca hay bận việc là các bạn nghỉ học. Chính vì điều đó mà các bạn khó hiểu bài và chúng tôi cũng không có thời gian để thăm hỏi, khích lệ, hoặc giao lưu chia sẻ.” Nếu như người giảng dạy cho rằng thời gian quá ngắn để truyền đạt đức tin, thì nhiều học viên bảy tỏ thái độ không đồng ý, và cho rằng thời gian học kéo quá dài, trong khi đó các bạn đã chọn ngày cưới. Được biết, hàng năm giáo xứ Khiết Tâm mở từ hai đến ba khóa giáo lý dự tòng và hôn nhân. Thời gian học giáo lý dự tòng là 6 tháng, giáo lý hôn nhân là 3 tháng.
            Cuối cùng, nguyên nhân chính khiến anh chị em tân tòng bỏ đạo phải kể đến là do đời sống di dân nay đây mai đó, không có nơi ở và việc làm ổn định. Cuộc sống vất vả nơi vùng quê xa xôi đã khiết không ít các bạn trẻ vào Nam kiếm sống với hy vọng sẽ có cơ hội đổi đời, hoặc kiếm được một việc làm ổn định. Tuy nhiên, ở một thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh không dễ để làm ăn sinh sống, chưa nói đến các tệ nạn xã hội luôn cám dỗ, rình rập. Bên cạnh đó, còn có những yếu tố khác như sự kỳ thị vùng miền, khác biệt văn hóa, tôn giáo cũng khiến cho các bạn trẻ di dân khó hòa nhập với địa phương. Điều này dẫn đền việc nhiều bạn trẻ di dân thường xuyên thay đổi công ty, thay đổi việc làm, thay đổi môi trường sống…Chính những thay đổi này làm xáo trộn cuộc sống người di dân, là nguyên nhân dẫn đến hậu quả các tân tòng bỏ đạo bởi không có môi trường sinh hoạt đạo, ít người quan tâm nhắc nhở. Nhà thờ lại xa nơi ở không thuận tiện cho việc đi lại. Từ đó, các bạn tân tòng lơ là, hay ít đến nhà thờ, lâu dần sẽ bỏ đạo.

4.      Hãy để Chúa Thánh Thần làm việc và chính Ngài sẽ nâng đỡ bước chân của họ”

            Đứng trước tình hình các bạn trẻ di dân theo học đạo, sau đó bỏ đạo ngày một tăng, cha chánh xứ Phao-lô Ma-ri-a Nguyễn Thanh Quang, SSS cũng đã có những kế hoạch hỗ trợ, giúp đỡ cho anh chị em dự tòng và tân tòng. Ngoài những ưu tiên cho người dự tòng như đã đề cập trên, cha chánh xứ cũng lưu tâm đến việc giữ đạo của họ. Vào lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (2013), phối hợp với Ban Hành Giáo, văn phòng Mục Vụ Di Dân, cha xứ đã tổ chức buổi họp mặt cho các anh chị em dự tòng và tân tòng. Theo cha: “Qua buổi họp mặt này, chúng tôi muốn đồng hành, khích lệ, động viên các bạn tân tòng. Đặc biệt chúng tôi muốn hỏi han các bạn sau một năm sống đạo, qua đó nhắc nhở cũng như động viên các bạn trong việc giữ đạo và sống đạo. Chúng tôi hy vọng buổi họp mặt này sẽ trở thành buổi họp mặt truyền thống của anh chị em dự tòng và tân tòng, và sẽ được tổ chức hàng năm vào dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.”
Cha Phê-rô Nguyễn Thế Trịnh, SSS là người có kinh nghiệm lâu năm trong việc dạy giáo lý dự tòng. Ngài cũng có nhiều thao thức trước tình trạng nhiều anh chị em tân tòng bỏ đạo. Cha nói: “các học viên phải ý thức việc học đạo của mình. Không phải chỉ học đạo để lấy vợ, lấy chồng mà là để tin, để sống, để truyền lại đức tin đó và giáo dục con cái sau này. Chính vì thế học viên không được lơ là, hay có thái độ bất cần trong việc theo học giáo lý.” Với giáo lý viên thì cha luôn nhắc nhở: “ phải chú ý dạy thật kỹ cách thức xét mình và xưng tội. Nếu cần thiết thì phải tập cho người dự tòng biết cách xưng tội, và tập xưng tội trước. Ngoài ra cũng phải chú ý dạy kỹ các bí tích, khi nào bí tích thành sự và không thành sự.” Thầy Đa-minh Nguyễn Hoàng Long, SSS hiện đang dạy giáo lý dự tòng tại đây góp ý: “với người dạy giáo lý dự tòng thì việc cần thiết là phải soạn giáo án cho thật kỹ trước khi lên lớp.” Ngoài ra, trong khi tham gia học giáo lý dự tòng, các bạn cũng cần phải được tham gia nhiều chương trình sinh hoạt của giáo xứ, nhất là các giao lưu giữa các lớp. Đó là kiến nghị của thầy Phê-rô Mai Quốc Anh, SSS. Thầy thêm rằng: “hiện giờ đa số quý thầy dạy ở các lớp học tự tổ chức các buổi giao lưu thể thao, văn nghệ của lớp mình với mục đích đồng hành, khích lệ, tạo tương quan giữa người dạy và học viên. Thiết nghĩ việc này cũng cần thiết, nên xin kiến nghị văn phòng Mục Vụ giáo xứ lưu tâm. Có thể tổ chức giao lưu giữa các lớp với nhau.”
Nhiều học viên khi được hỏi có những thao thức gì trong tương lai, hay có tiếp tục theo đạo sau khi kết hôn, thì phần lớn các bạn tỏ thiện chí sẽ giữ đạo. Tuy nhiên, khi một giả định đặt ra cho các học viên: “Nếu người người yêu của bạn quyết định không kết hôn nữa vì lý do nào đó, thì bạn có tiếp tục học đạo và theo đạo không?” Nhiều bạn tỏ thái độ ngập ngừng, hoặc chỉ cười, hoặc không trả lời. Bạn Hoàng Thị Thùy Dung, quê Quảng Bình, sinh 1991 chia sẻ: “gia đình con theo đạo Phật. Chồng sắp cưới của con là con trưởng nên con phải theo anh ấy. Nhưng nếu anh ấy bỏ con, con nghĩ mình vẫn tiếp tục theo đạo.” Cũng với câu hỏi giả định được đặt ra, bạn Võ Minh Tiến, quê Bình Dương, 21 tuổi trả lời: “điều đó cũng khó nói lắm.”
Quả thật rất khó nói, khó nghĩ về một thực trạng tưởng dễ mà lại quá khó. Đó là vấn đề được đặt ra không chỉ cho các cấp lãnh đạo trong Giáo hội mà cho tất cả các tín hữu. Lời mời gọi của Chúa Giê-su năm xưa như vọng lại bên tai: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mt 16, 15). Với chức vụ Ngôn sứ nhận được khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, mỗi Ki-tô hữu được mời gọi truyền giáo đến mọi người và mọi nơi. Thật vậy, bản chất của Giáo hội là truyền giáo. Tuy nhiên, trước những dấu chỉ mới của thời đại, tình trạng di dân ngày một tăng, thì phải chăng truyền giáo là lên đường đến những vùng đất xa xôi như các nhà thừa sai của thế kỷ 18, 19; hay truyền giáo là đến với những di dân đang sinh sống xung quanh mình. Rất khó để định nghĩa truyền giáo hiện nay là gì, nhưng sự kiện nhiều người theo đạo vì lý do hôn nhân cũng đáng được lưu tâm. Đức tin là ơn Chúa ban, nhưng đức tin đó phải được dưỡng nuôi trong cộng đoàn. Thế nên để người tân tòng có thể giữ đạo và sống đạo thì cần phải có sự giúp đỡ của cộng đoàn. Thiết nghĩ mỗi người tín hữu có thể làm việc này bằng chính đời sống chứng nhân của mình bởi “người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con hãy thương yêu nhau.” (Ga 13,35)
Chia tay các học viên giáo lý dự tòng, tạm biệt giáo xứ Khiết Tâm, chúng tôi ra đi mang theo cả những băn khoăn, thao thức. Một câu hỏi lớn bất chợt trong suy nghĩ: “Nếu như cha xứ, Ban Hành Giáo và mọi người đã tạo điều kiện rất tốt cho các anh chị em dự tòng học đạo và giữ đạo, nếu như anh chị em dự tòng nhiều người rất thích thú, tha thiết theo đạo thì tại sao tỷ lệ bỏ đạo sau khi rửa tội lại quá lớn? Phải chăng giáo lý Công giáo chỉ là một mớ lý thuyết hấp dẫn nhưng không thực tế?” Xin được mượn lời chia sẻ của thầy Đa-minh Nguyễn Hoàng Long, SSS thay cho lời kết: “Tôi nhận thấy, từ cha xứ, ban hành giáo, đến những người giảng dạy giáo lý như chúng tôi đã rất tâm huyết, hết lòng giúp đỡ các anh chị em dự tòng và tân tòng về mọi mặt. Đó là sự đóng góp của chúng tôi trong công việc truyền giáo. Tuy nhiên, kết quả như thế nào, các bạn tân tòng giữ đạo ra sao thì chỉ biết cầu nguyện và phó thác cho Chúa. Hãy để Chúa Thánh Thần làm việc, và chính Ngài sẽ nâng đỡ bước chân họ.”
Vâng! “Hãy để Chúa Thánh Thần làm việc, và chính Ngài sẽ nâng đỡ bước chân họ!” Liệu chúng ta có dám tin như thế không?

           

  

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

NIỀM VUI BÊN THÁNH THỂ

Mắt chưa một lần thấy, tai chưa một lần nghe tiếng Chúa nói nhưng ở đó – trong mỗi giờ chầu Thánh Thể tâm hồn tôi luôn ngập tràn niềm vui, hạnh phúc và bình an. Niềm vui ấy cứ trào dâng, trào dâng mãi. Sóng sánh nụ cười, xốn xang lồng ngực. Tôi muốn la lên thật to, hét lên thật lớn để thỏa lòng sung sướng đang ngập tràn. 
Vui, cười. Buồn, khóc. Đôi khi ngược lại, niềm vui có thể làm tuôn trào nước mắt và trước nỗi buồn tiếng cười thốt lên nghe đau đớn, xé nát con tim. Nơi ấy. Vâng! Chính nơi ấy đã cho tôi những cảm xúc lẫn lộn như thế. Nơi ấy, tôi có thể trải lòng mình ra, bộc lộ bản chất, con người, những điều tốt đẹp và cả những thói hư tật xấu, tội lỗi mà không cảm thấy hổ thẹn, ái ngại. 
Cuộc sống đôi lúc làm cho tôi cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng, chán chường, thất vọng… song ở nơi ấy, tất cả những điều đó được thay thế bằng niềm vui, hạnh phúc và bình an. Rồi khi trở về, tôi có được sức sống mới, tinh thần mới và sự sảng khoái của thể xác. “Thánh Thể” mới ngày nào nghe còn xa lạ nay lại gần gũi, thân thương đến lạ kỳ. 
Tôi còn nhớ lần đầu tiên khi đặt chân vào Dòng Thánh Thể là một ngày trời nhiều mây nhưng không mưa. Gió khe khẽ thổi len qua những kẽ lá nghe như tiếng cười khúc khích. Gió làm lá đung đưa hệt như những bàn tay vẫy chào đón tôi. Cảm giác hồi hộp ngày một tăng, tim đập rộn rã, tôi như lặng người trước khung cảnh mới lạ của nhà Dòng. Nhưng không vì thế mà làm giảm đi sự tò mò và muốn khám phá, tìm hiểu rõ hơn về Dòng trong tôi. 
Tất cả sẽ chẳng là gì nếu như trong giờ chầu hôm đó tôi không cảm được niềm vui, hạnh phúc và bình an. Một niềm vui thật sự từ tận đáy lòng mà chưa bao giờ tôi có được. Niềm vui ấy rõ ràng, chỉ cần với tay là tôi có thể chạm lấy nhưng mỗi khi tôi đưa tay ra thì niềm vui lại xa dần, xa dần. Và đó là điều lôi kéo tôi, kích thích tôi. Để rồi sau khi cầu nguyện, suy nghĩ và tham khảo ý kiến của nhiều người tôi đã quyết định ra đi tìm kiếm niềm vui, mà chỉ ở bên Thánh Thể tôi mới có được. 
Ngày vào Nhà Thử lòng tôi rộn ràng vì ước nguyện được thực hiện song cũng tràn đầy lo âu, sợ sệt. Những ngày đầu tiên tôi sống thật khó khăn bởi chưa quen với lối sống, sinh hoạt nhà tu. Thế nhưng trước Thánh Thể Chúa trong những giờ chầu, tôi lại tìm gặp được một sự gần gũi, thân thương. Rồi sau những lần gặp gỡ thân thương đó, tôi dần lấy lại được thăng bằng trong cuộc sống. Cảm giác lo âu, sợ sệt được thay thế bằng sự tự tin và vui tươi. Mọi thứ trước kia xa lạ bao nhiêu thì nay thân thương, quen thuộc bấy nhiêu. Mọi người với tôi thật tốt. Tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm xây dựng nhà Dòng ngay trong những bước đi đầu tiên này. Dù cho sau một năm sống thử, tôi có quyết định dấn thân tiếp với ơn gọi dâng hiến, hay tôi sẽ phải trở về vì không phù hợp với đời sống của Dòng thì những ngày sống ở đây tôi thật sự hạnh phúc. 
Nghĩ và làm. Tôi đã luôn sống với chính con người thật của tôi. Sống theo những gì Chúa đã nói với lương tâm của tôi qua những giờ chầu Thánh Thể. Sự thật dễ gây mất lòng. Có thể chính cuộc sống của tôi lại gây cho nhiều người khó chịu, hay không thích, thậm chí tôi đã nhiều lần làm ảnh hưởng đến quyền lợi của anh em. Và những lúc như thế, qua những giờ chầu tôi tìm lại được sự cảm thông, chia sẻ. Rồi khi trở về với cuộc sống thường ngày tôi ý thức hơn trong lời nói, hành động, trong cách cư xử sao cho không ảnh hưởng đến người khác
Còn những khi nhớ nhà, nhớ ba mẹ, anh chị em và nhớ cả người yêu… tôi cũng chạy đến với Thánh Thể. Không có ngôn từ nào có thể nói hết được tâm trạng của tôi lúc đó. Chỉ biết rằng qua Thánh Thể tôi đã gặp gỡ được mọi người. Tim tôi như đập cùng nhịp vời họ. Và tôi đã nói chuyện với từng người qua Thánh Thể. Thật tuyệt vời!
Cuộc sống không phải lúc nào cũng tốt đẹp. Nhiều khi gặp mâu thuẫn với anh em, hay những điều không đồng quan điểm với bề trên, giám đốc… thì qua những giờ chầu tôi đem những đều đó ra bàn bạc, chia sẻ… và dĩ nhiên tôi đã tìm được câu trả lời, cũng như sự cảm thông với những người có trách nhiệm.
Và cứ như thế, thời gian trôi đi thật nhanh. Bất cứ lúc nào gặp khó khăn, thử thách thì ở bên Thánh Thể tôi có thể tháo cởi và giải tỏa. 
Những ngày này cha bề trên, ban cố vấn và thầy phụ trách đang thẩm định, đánh giá chúng tôi. Để tìm ra người đủ điều kiện, phù hợp với đời sống và linh đạo Dòng Thánh Thể. Đây là một việc quan trọng, bởi ảnh hưởng đến một thế hệ, đến sự phát triển của Dòng. Dĩ nhiên tôi lo âu, hồi hộp chờ kết quả. Không biết mọi người đánh giá tôi thế nào? Nhưng dù sao đi nữa tôi cũng đã sống hết mình, sống bằng chính con người thật của tôi. 
Sáng qua, anh em to nhỏ bảo nhau: “Ban cố vấn đang bỏ phiếu anh em mình.” Lòng tôi thắt lại. Nặng trĩu! Hồi hộp, mất ngủ…
Chiều nay, chầu, tôi đem tất cả những tâm tư suy nghĩ, lo âu,… thưa chuyện cùng Chúa. Chẳng nghe Chúa nói. Nhưng thay vào đó là niềm vui lại trào dâng, trào dâng như bọt biển, giòn tan.
Cười. Phải! Tôi cười. Lòng lại tràn ngập niềm vui, bình an và hạnh phúc như ngày đầu tiên đặt chân vào Dòng. Bên ngoài, gió thổi nghe nhẹ tâng. Lòng tôi nhẹ tâng…


Thỉnh sinh 2006
MAPHUC, sss

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

MẸ MARIA VÀ THÁNH THỂ

Mẹ Maria và Thánh Thể
MẸ MARIA VÀ THÁNH THỂ

         Có nhiều bậc thánh nhân, như thánh Phêrô Damien, thánh Bênađô, thánh Bônaventura, thánh Bernadine . . . đã đồng thanh nói rằng, Chúa Giêsu đã thành lập Bí tích Thánh Thể, trước hết cho Mẹ Maria, rồi qua Mẹ Maria, Đấng trung gian mọi ân sủng, cho tất cả chúng ta. Vì thế, xuất thân từ Đức Maria về thể lý, Chúa Giêsu đã đến để Ngài được ban cho chúng ta ngày qua ngày; và trong Chúa Giêsu, thịt vô nhiễm và máu trinh nguyên của Mẹ Người luôn luôn thấm nhập vào chúng ta, và làm cho linh hồn chúng ta say men tình ái. 
Dựa vào lời xác tín của các thánh nói trên, chúng ta cùng suy niệm chủ đề: Mẹ Maria trong tương quan với Bí tích Thánh Thể. Phần suy niệm này xoay quanh khuôn khổ: Thịt bởi thịt tôi, máu bởi máu tôi.

I. GIỜ CỦA MẸ - GIÁNG SINH - NHÀ BÁNH

1. Giáng Sinh.
          Nhìn vào bối cảnh Giáng Sinh, chúng ta nhận thấy Giáng Sinh là một mầu nhiệm  đơn sơ, nhưng gây ngỡ ngàng, được diễn ra ở  Bêlem như lời tiên báo của ngôn sứ Mika: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì nơi ngươi, vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mk 5, 1).
         Bêlem là chi tộc nhỏ  nhất mà Chúa ưa thích. Thiên Chúa ưa thích chọn những gì bé nhỏ để biểu dương ơn cứu độ của Người. Thiên Chúa như bị thu hút bởi sự yếu hèn của loài người chúng ta. Bởi đó, “từ nơi ngươi, hỡi Bêlem, sẽ xuất hiện vị cứu tinh…”.

2. Nhà bánh.
         Bêlem có nghĩa là  ngôi nhà làm bánh. Ở đó, các cô gái đang nhồi bột làm bánh cho ngày Sabbat, bánh của ngày lễ. Cũng ở đó, như một bức ảnh in chồng lên, Maria, người nội trợ của Giáo Hội đang nhồi bánh của Thiên Chúa, chiếc bánh cho ngày Sabbat, một chiếc bánh mới để rạng sáng ngày Phục Sinh: Chúa Giêsu, chiếc bánh được ban cho chúng ta.

3. Giờ của Maria.
          Tại Bêlem, ngôi nhà  bánh, giờ của Mẹ đã đến.
         Theo lệnh kiểm tra dân số của hoàng đế Augustô, Giuse và Maria trở về Bêlem để khai tên vào sổ bộ. “Khi hai người đang ở đó, thì Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa” (Lc 2, 6).
          Giờ của Maria đã  đến, giờ của ngày Giáng Sinh. Tấm bánh đã được làm ra.
        “Khi sinh con, người đàn bà cảm thấy lo buồn, vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui, vì một người con đã sinh ra trong thế gian” (Ga 16, 21). Khi nói lời này, Chúa Giêsu muốn so sánh giờ Giáng Sinh với giờ Thương Khó, đó là hai huyền nhiệm, nhưng chỉ là một thực tại. Ở giờ Thương khó, Chúa Giêsu, Bánh Thánh Thể chính thức được ban cho Giáo Hội mãi mãi.  
         Cha Stêphanô Manelli nói rằng: “Thánh Thể là Bánh từ trời  đã đến qua Mẹ chúng ta. Đó là bánh do Mẹ chế biến từ bột của xác thịt vô nhiễm, và được nhào trộn với sữa trinh nguyên của Mẹ”. Và thánh Augustinô đã nói: “Chúa Giêsu lấy thân xác của Người từ thân xác của Mẹ Maria”.
        Đối lại với Giờ của Mẹ Maria, thì ba mưoi ba năm sau là Giờ của Chúa Giêsu, diễn ra qua cuộc Thương Khó. Lúc đó, Chúa Giêsu là Tấm Bánh được bẻ ra.

II. GIỜ CỦA CHÚA GIÊSU - THƯƠNG KHÓ - TẤM BÁNH ĐƯỢC BẺ RA
1. Giờ của Chúa Giêsu.
        Phúc âm thánh Gioan có ghi: “Trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”  (Ga 13, 1). Và Người còn nói: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
        Do đó, trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã bắt đầu một hy lễ mới, để tiếp tục ở lại với những kẻ thuộc về Người. Khi Người lập Bí tích Thánh Thể: Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và phán: “Nầy là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy, Người cầm lấy chén rượu, tạ ơn, trao cho các môn đệ và phán: “Nầy là chén Máu Ta sẽ đổ ra vì các con. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Hy lễ này rồi sẽ được hoàn tất nơi cuộc Thương Khó.

2. Thương Khó.
         Chúa Giêsu bắt đầu cuộc hiến tế từ chiều nay, thứ năm, để chiều mai, thứ sáu, Người hoàn tất trên thập giá, vì lễ hy sinh trong bữa tiệc ly và lễ hy sinh trên thập giá chỉ là một. Trong cả hai, Chúa Giêsu đã hiến mình làm lễ vật dâng hiến Chúa Cha:
        * Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu hiến tế cách mầu nhiệm và bí tích. Trên thập giá, Chúa Giêsu hiến tế bằng chính Mình Máu mình.
       * Trong bữa tiệc ly, ý  muốn hiến thân của Chúa Giêsu đã được biểu lộ  qua một cử chỉ bề ngoài: Người cương quyết dấn thân chịu hy sinh đẫm máu trên thập giá. Ở  đó, tấm bánh đã được bẻ ra.

3. Tấm bánh được bẻ ra.
         Tấm bánh được bẻ ra như thế  nào ?
       Trên thập giá, Chúa Giêsu chịu hiến tế:  “Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có Mẹ Người, chị của Mẹ Người là bà Maria vợ  ông Clôpas và bà Maria Macdala” (Ga 19, 25).
        Mẹ Maria đã trung thành hợp nhất với Con cho đến bên thập giá. Tấm bánh mà Mẹ đã làm ra ở ngày Giáng Sinh, hôm nay, sau 33 năm, Mẹ tiến dâng trên thập giá. Mẹ đã hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng Mẹ sinh ra, để tấm bánh ấy được bẻ ra và trao ban.
       Đúng vậy, Công Đồng Vatican II, trong Hiến chế về Giáo Hội đã nhắc nhở chúng ta nhớ lại lòng trắc ẩn của Mẹ Maria: trong tim Mẹ dội lại tất cả những gì Chúa Giêsu chịu đựng trong thân xác và linh hồn, đề cao lòng mong muốn của Mẹ được chia sẻ với hy lễ cứu chuộc của Con, và nối kết sự đau đớn tình mẹ của Mẹ với sự hiến dâng tư tế của Con (LG 58).
       Quả là một hành động yêu thương đích thực, qua đó, Mẹ dâng Con mình như của lễ hy sinh đền tội cho toàn thể  nhân loại. Đến đây, ta thấy lóe lên một vấn nạn.
4. Vấn nạn.
       Lễ hy sinh trong bữa tiệc ly và lễ hy sinh trên thập giá là  một. Vậy, tại sao dưới chân thập giá có Mẹ  Maria hiện diện, còn trong bữa tiệc ly Mẹ lại vắng mặt ?
       Đức Hồng Y James Hickey đã giải thích như sau: Chúa Giêsu đã yêu Mẹ rất nhiều, yêu hơn hết mọi sự, Người muốn cho chúng ta một bài học đích đáng, qua việc không đưa Mẹ Người vào trong bữa tiệc ly. Đó là Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến nguồn gốc “tặng ân đến từ bên ngoài” (Extra nos) của chức tư tế trong Tân ước.
       Chức tư tế trong Tân ước không do bởi tương quan huyết nhục, không do cha truyền con nối, cũng không do bởi tình trạng thánh thiện của vị tư tế, nhưng đó là “một tặng ân đến từ bên ngoài”, nghĩa là một tặng ân đến từ Chúa Cha, qua Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần. Nó làm cho vị tư tế có thể hoạt động trong ngôi vị Chúa Kitô (in persona Christi). Bản tính và quyền năng của chức linh mục trong Tân ước được tỏ lộ nơi Chúa Kitô và duy nơi mình Người.
       Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội nói rằng: chức tư tế chung của tín hữu và chức tư tế thừa tác khác nhau, không chỉ về cấp bậc mà còn về yếu tính, tuy nhiên, cả hai đều bổ túc cho nhau (LG 10). Sự bổ túc cho nhau của chức tư tế thừa tác và chức tư tế chung được biểu lộ rõ nét ở dưới chân thập giá. Ở đó, có thánh Gioan, là một linh mục đang đứng bên Mẹ Maria.
       Như vậy, sự tách biệt nơi bữa tiệc ly là nhằm để chứng minh bản tính phẩm trật của Giáo Hội, được đi theo bởi một tổng hợp ở dưới chân thập giá. Dưới chân thập giá, có Mẹ Maria và Gioan, mỗi người như là một khía cạnh của bản tính Giáo Hội, vẫn tách biệt, nhưng cả hai được sắp đặt và cấu tạo để bổ túc cho nhau:
- Gioan được ban cho Mẹ  Maria.
- Mẹ Maria được ban cho Gioan.

III. HIỆP LỄ CÓ  MẸ.

      Mỗi khi chúng ta rước lấy Mình Máu Chúa Giêsu, chúng ta nên ý thức rằng có sự  hiện diện của Mẹ Maria.
1. Lưu lại.
      “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì luôn lưu lại trong Ta, và Ta ở trong người ấy” (Ga 5, 56). Lưu lại là sự kết hiệp thật sâu xa đến nỗi sự kết hiệp này có tính cách thường hằng và bền vững. Được kết hiệp với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, chúng ta kết hiệp với Thịt và Máu Chúa Giêsu, được lấy từ thịt và máu của Mẹ Maria. Do đó, mỗi khi chúng ta rước lễ là có sự hiện diện dịu dàng và huyền nhiệm của Mẹ Maria, Đấng liên kết bất khả phân ly với Chúa Giêsu trong hình bánh hình rượu.
      Chúa Giêsu là người con mà Mẹ hằng tôn thờ. Người là xác thịt của xác thịt Mẹ. Xưa kia, Ađam có thể gọi Eva, khi bà được lấy từ xương sườn của ông, rằng: “Xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2, 23), thì nay, Mẹ Maria cũng có thể có lý để gọi Chúa Giêsu là “thịt bởi thịt tôi và máu bởi máu tôi”.
      Thánh Tôma Aquinô đã nói: “Được lấy từ Đức Nữ Đồng Trinh, xác thịt của Chúa Giêsu là xác thịt thuộc mẫu tính của Mẹ Maria”.
      Thánh Augustinô đã dạy: “ Trong Bí tích Thánh Thể, Mẹ Maria nối dài, và làm cho tình mẫu tử thiêng liêng của Mẹ mãi mãi tồn tại”.
      Thánh Albertô Cả  ân cần khuyên: “Bạn ơi, nếu bạn muốn có kinh nghiệm về tình thân mật với Đức Maria, bạn hãy để chính bạn được ôm ấp trong cánh tay của Mẹ.
      Hãy bước đi với tư  tưởng tinh tuyền khôn tả này tới bàn tiệc của Thiên Chúa, rồi bạn sẽ tìm thấy được sự nuôi dưỡng của người Mẹ bằng bửu huyết của người Con”.

2. Kinh nghiệm thực hành trong Giáo Hội.
      Thể hiện những tư  tưởng trên, chúng ta nhận thấy rõ nét, ở kinh nghiệm thực hành các việc tôn sùng trong Giáo Hội, qua nhiều cuộc biểu dương lòng sùng kính Mẹ Maria, được kết thúc bằng việc tôn thờ Thánh Thể và Phép Lành Mình Thánh Chúa.
       Đó là kết quả hợp tình hợp lý: Lòng tôn kính Mẹ Maria đã dẫn đưa các tín hữu đến lòng tôn thờ Chúa Giêsu Kitô.

KẾT
       Để kết thúc bài suy niệm này, tôi xin mượn lời kinh AVE, VERUM CORPUS để ca ngợi Đức Mẹ Thánh Thể:
Con kính lạy Mình Thánh Chúa Giêsu,
Xưa bởi lòng rất thánh Đức Bà Maria,
Trọn  đời đồng trinh mà ra,
Chuộc tội chịu chết trên cây thánh giá,
Cùng chịu lưỡi đòng đâm cạnh nương long,
Chảy hết máu cùng nước ra.
Con xin ngày sau, khi con qua đời,
Xin Chúa hằng nuôi lấy linh hồn con.

    Ôi Giêsu khoan thay,      
    Ôi Giêsu nhân thay,      
    Con rất thánh mẫu Maria. Amen

(bản dịch trích từ sách kinh của Giáo phận Qui Nhơn)
            Lm And. Phạm văn Bé

ĐỨC MARIA VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ 2

Đức Maria và Bí Tích Thánh Thể
ĐỨC MARIA VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

     Dưới chân thập giá, Chúa Giêsu đã trao phó thân mẫu Người cho Giáo Hội, đại diện là  người môn đệ yêu dấu (“này là Mẹ con”) và đồng thời, Người đã trao phó Giáo Hội cho Đức Maria (“Này bà, đây là con bà” –  Ga 19, 26-27). Được tràn đầy ân sủng, Đức Maria không hề giữ lấy cho riêng mình mối liên hệ đặc quyền nào với Chúa Giêsu, thậm chí Mẹ không hề thể hiện một biểu hiện nhỏ nào, dù là nhỏ nhất, của sự chiếm hữu. Trái lại, Mẹ hằng mong mỏi muốn chia sẻ với toàn thể Giáo Hội ân sủng đầy tràn của Mẹ và đặc biệt, mối liên hệ của Mẹ với con Mẹ. Ở đây, dựa vào thông điệp Ecclesia de Eucharistia (Giáo Hội Sống Nhờ Thánh Thể) của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, chúng ta sẽ học nơi Mẹ để biết thế nào là kết hợp với Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể.     

Thiên Chúa không ép buộc Đức Maria phải làm Mẹ  của Con của Người; nhưng Người chờ đợi sự ưng thuận tự do của Mẹ cho cuộc nhập thể. Cũng tương tự như thế, Chúa Giêsu Thánh Thể không tự ý ngự vào thân thể và tâm hồn ta. Người chỉ ngự vào lòng ta khi ta khao khát mời Người đến và biến đổi ta. “Có một sự tương đồng sâu sắc giữa tiếng FIAT (xin vâng) của Mẹ Maria khi ngài đáp lời thiên sứ với tiếng AMEN mà mọi tín hữu đáp lại khi lãnh nhận Mình Thánh Chúa .” (Ecclesia de Eucharistia, 55).

      Chỉ khi Mẹ Maria cất lên lời “xin vâng”, cuộc nhập thể của Thiên Chúa vào nhân loại và vào lịch sử mới bắt đầu. Như một sự mở rộng tiếng xin vâng của Mẹ Maria, chúng ta hãy khao khát và cầu xin Chúa Kitô ngự vào tận đáy lòng ta qua bí tích Thánh Thể. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không có ý định chỉ cư ngụ ở trong ta mà thôi nhưng, hiểu theo nghĩa loại suy, Người còn muốn được sinh ra trong ta và từ nơi ta nữa. Bằng việc cư ngụ, chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đang hiện diện, mà thực tế là hiện diện một cách sống động trong ta. Tuy nhiên, hình ảnh Chúa Giêsu sinh ra trong ta ngụ ý muốn nói rằng Chúa Giêsu làm nên thân thể của Người theo khuôn mẫu thân thể của ta. Nghĩa là lời nói của ta, cái nhìn của ta, nụ cười của ta, nước mắt của ta, một cách nào đó biểu lộ lời nói của Người, cái nhìn của Người, nụ cười của Người, nước mắt của Người.

      Ngay sau khi mang thai Chúa Giêsu, Mẹ Maria đã vội vã  lên đường đi thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét. Khi chúng ta mang Mình Thánh cho người bệnh, chúng ta có  thể nghĩ đến việc Mẹ Maria đã cưu mang Chúa Giêsu trong bụng ra sao khi vượt qua những vùng đồi núi xứ Giu-đê-a. Có lẽ Mẹ không thể nói lên bằng lời cái cảm nghiệm của Mẹ, nhưng chắc chắn, một cách trực giác, mẹ biết rằng Mẹ đang cưu mang chính Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa và là Đấng Cứu Độ của Mẹ. Có thể Mẹ rất lấy làm kinh ngạc về sự khiêm nhường của Thiên Chúa, một Thiên Chúa đã trao HAGION, Mầu Nhiệm Thánh của chính Bản Thể Người, cho Mẹ. Khi ta mang Mình Thánh Chúa trong người, thậm chí ta có thể nghĩ đến một sự khiêm nhường lớn lao hơn, đó là Chúa Kitô đã trở nên thật nhỏ bé vì chúng ta và hoàn toàn phó thác chính mình trong bàn tay ta. Để rồi sau đó chúng ta có quyền hoặc mang Người đến cho bất cứ ai ta muốn, hoặc từ chối mang Người đến cho ai đó; chúng ta có thể tôn thờ hoặc lăng mạ Người (Đương nhiên, chúng ta không thể làm hại Người dưới những dấu chỉ bí tích, nhưng chắc chắn chúng ta có thể đoạn tuyệt và báng bổ Người).

      Như Mẹ Maria đã đến viếng thăm và  chào bà Ê-li-sa-bét, chúng ta cũng phải loan báo Tin Mừng. Chúng ta không chỉ mang trong mình một thông điệp, một giáo huấn, một nhân sinh quan, một tư tưởng, nhưng hơn thế, chúng ta mang chính Chúa Kitô, Đấng đã chịu đóng đinh, chịu chết và đang hiện diện ở giữa chúng ta ngày hôm nay. Dĩ nhiên, việc loan báo Lời phải đi trước Bí tích Thánh Thể, tuy nhiên chỉ nhờ Bí Tích Thánh Thể tiến trình Phúc Âm hóa mới được hoàn thành. Như bà Ê-li-sa-bét đã ôm lấy Chúa Giêsu qua Mẹ Maria, người ta cũng sẽ chấp nhận Chúa Giêsu qua chứng tá của chúng ta về bí tích Thánh Thể.

      Mẹ Maria, khi ngắm nhìn “quả phúc bởi lòng Mẹ”, chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu mới sinh là chính con Mẹ, là thịt bởi thịt Mẹ, mắt bởi mắt Mẹ  thì cũng đồng thời tôn thờ Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa và Cứu Độ của Mẹ.

      Khi chúng ta lãnh nhận Chúa Kitô trong Thánh Lễ  hay khi chúng ta viếng Thánh Thể, chúng ta hãy xin Mẹ Maria cho chúng được chia sẻ tình yêu và sự ngạc nhiên của Mẹ. Con Thiên Chúa đã trở nên nhỏ bé và tầm thường vì chúng ta bao nhiêu – chỉ một tấm bánh nhỏ và vài giọt rượu nho rất dễ bị coi thường và vứt bỏ – thì tình yêu và lòng tôn kính của chúng ta với Người càng phải lớn bấy nhiêu. Chúa Giêsu ở lại trong tâm hồn ta không còn với sự hiện diện thể lý đầy đủ như trong Bí Tích Thánh Thể, nhưng Người ở lại trong ta qua quyền năng biến đổi của Người. Trong cả những khi công việc căng thẳng lẫn những lúc vui chơi giải trí, chúng ta nên thi thoảng trở về với tâm hồn của mình, nơi Chúa các chúa và trung tâm của vũ trụ đang hoạt động trong ta. Chúng ta hãy để cho Mẹ Maria dạy chúng ta suy đi nghĩ lại và chiêm niệm những lời của Chúa Giêsu, ngõ hầu chúng ta ngày càng thấm nhuần mầu nhiệm của Người.

      Khi Mẹ Maria dâng con mình cho Thiên Chúa trong Đền thờ, ông Si-mê-on đã nói tiên tri rằng, con Mẹ  sẽ nên dấu hiệu cho người đời chống báng và  một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Mẹ. Như thế, con trẻ Giêsu được hiến dâng trong Đền thờ tượng trưng cho của lễ hy sinh. Hoàn toàn trinh trắng và đầy tràn ân sủng, Mẹ Maria hiểu rõ hơn ai hết trong chúng ta sự mâu thuẫn và xung đột giữa Chúa Giêsu và thế gian, đang nằm dưới ách thống trị của ma quỉ. Chỉ mình Mẹ là người đồng cảm và “đồng chịu đau khổ” với con Mẹ, bởi trên thế gian này chỉ mình Mẹ hiểu được sự dữ bởi tội lỗi của chúng ta đã làm cho con Mẹ đau khổ thế nào và Con Mẹ vẫn yêu thương chúng ta, những kẻ tội lỗi, đến cùng ra sao. Mẹ biết Chúa Giêsu đã tận tâm thờ lạy, tôn vinh và hòa giải với Chúa Cha thay cho chúng ta và vì chúng ta ra sao. Chính vì vậy, trong Đền Thờ và sau này ở dưới chân thập giá, chỉ mình Mẹ mới có thể dâng con Mẹ cho Chúa Cha với một “trái tim thấu hiểu”. Nơi bí tích Thánh Thể chúng ta hãy xin Mẹ Maria dạy chúng ta nhận biết thánh tâm Chúa Giêsu và nhận ra rằng, chúng ta có một kho tàng thật vô tận ở giữa chúng ta khi, nhờ của lễ hiến dâng là Chúa Giêsu, chúng ta chia sẻ sự tự hiến một lần cho tất cả của Chúa Giêsu.

      Khi Mẹ Maria ở giữa các môn đệ đang chuyên cần cầu nguyện và chờ đợi được ban Thánh Thần, chắc chắn Mẹ cũng tham dự Tiệc Thánh Thể mà các Tông Đồ cử hành, ít nhất là  sau Lễ Ngũ Tuần:

      “Làm sao cảm nghiệm được những tâm tình của Mẹ Maria khi Mẹ nghe từ miệng thánh Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê và các Tông Đồ khác những lời đã được cất lên trong bữa Tiệc Ly: “Này là mình thầy bị hiến tế vì anh em [Lc 22,19]”? Thân thể bị hiến tế vì chúng ta và hiện diện dưới những dấu chỉ của bí tích cũng là chính thân thể mà Mẹ đã cưu mang trong lòng! Đối với Mẹ Maria, lãnh nhận bí tích Thánh Thể, dù thế nào đi chăng nữa thì đó là một lần nữa đón nhận vào trong lòng trái tim đã đập cùng một nhịp với trái tim Mẹ và sống lại những gì Mẹ đã cảm nghiệm khi ở dưới chân thập giá.” (Ecclesia de Eucharistia, 56)

      Đón nhận Đức Chúa Phục Sinh trong bí tích Thánh Thể, Mẹ Maria đã đón nhận chính thiên đàng trong linh hồn mình. Quyền năng của Chúa Thánh Thần đã bắt đầu hoạt động trên thế gian này và quyền năng ấy chuẩn bị cho linh hồn và thân xác của Mẹ ngày Lên Trời. Mẹ sẽ cầu nguyện với chúng ta và cho chúng ta hầu thân xác của chúng ta được chữa lành khỏi sự thống trị của những đam mê tội lỗi và được thông phần những nhân đức, sự tốt lành, lòng trắc ẩn, sự nhẫn nại, và lòng khiết tịnh của Mẹ
.


                Pax_man
Dịch từ  Rock A. Kereszty, The Wedding Feast of  the Lamb, Appendix 1

Tùy bút NHỮNG KẺ THA PHƯƠNG CỦA THỜI ĐẠI

Tùy bút NHỮNG KẺ THA PHƯƠNG CỦA THỜI ĐẠI ---|sss|--- Con đã ngồi suốt nhiều giờ trong tòa giải tội ở Giáo xứ Thánh Gia, Berlin, Đức qu...