Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

BÍ TÍCH THÁNH THỂ - NGHỆ THUẬT BÀY TỎ TÌNH YÊU

BÍ TÍCH THÁNH THỂ - NGHỆ THUẬT BÀY TỎ TÌNH YÊU





Dàn bài
   Giới thiệu
1. Thiên Chúa – Đấng Sáng Tạo – nhà nghệ sĩ tài ba
2. Bí tích Thánh Thể - nghệ thuật bày tỏ tình yêu
2.1. Tình yêu tự hiến – đỉnh cao của cái đẹp
2.1.1.  Cái đẹp của tình yêu tự hiến thể hiện qua sự từ bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa.
2.1.2.  Cái đẹp của tình yêu tự hiến thể hiện qua việc Đức Ki-tô hy sinh mạng sống của mình hầu cứu độ muôn người.
2.1.3.  Cái đẹp của tình yêu tự hiến được thể hiện qua việc Đức Ki-tô đã mở ra một thực tại mới.
     2.2. Nghệ thuật trong cách thức thể hiện tình yêu
    Kết luận.


Giới thiệu
“Cái đẹp là chìa khóa mở cửa mầu nhiệm và là tiếng mời gọi ta vươn lên cao. Đó cũng là tiếng nói mời gọi ta cảm nếm cuộc sống và mơ về tương lai. Chính vì thế cái đẹp của thụ tạo không bao giờ làm ta cảm thấy thỏa mãn hoàn toàn.”[1] Do đó, chỉ có cái đẹp hoàn bị mới làm no thỏa những con người đói khát. Cái đẹp hoàn bị vốn chỉ tồn tại nơi Đấng Sáng Tạo, cội nguồn của mọi cái đẹp được trao tặng cho muôn loài thọ tạo bằng chính tình yêu của Ngài. Tình yêu ấy, trải qua thời gian dài của lịch sử đã được Thiên Chúa mặc khải cách tiệm tiến. Vào thời viên mãn, tình yêu thể hiện trọn vẹn qua Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa. Chính Người là hiện thân của Thiên Chúa vô hình, là cái đẹp hoàn bị nhất nơi Thiên Chúa mà con người có thể đụng chạm và chiêm ngắm.
Trước khi bước vào cuộc Vượt Qua - cao điểm của công trình cứu độ, Đức Ki-tô đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể như là dấu chỉ cho sự hiện diện và tình yêu của Người dành cho nhân loại. Qua việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể, Đức Ki-tô làm nổi bật cái đẹp hoàn bị, cái đẹp trường cửu của Thiên Chúa.
Nhìn qua lăng kính của nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật trong Phụng vụ, xin được trình bày Bí Tích Thánh Thể dưới góc nhìn của người nghệ sĩ với đề tài: Bí Tích Thánh Thể - Nghệ Thuật Bày Tỏ Tình Yêu.
1.Thiên Chúa – Đấng Sáng Tạo – nhà nghệ sĩ tài ba.
Lật lại những trang đầu của Kinh Thánh, sách Sáng Thế đã giới thiệu Thiên Chúa như một khuôn mẫu cho tất cả những ai đang tạo ra một tác phẩm. Qua cách miêu tả, tác giả sách Sáng Thế đã trình bày một Thiên Chúa như một nghệ sĩ tài ba. Người Nghệ Sĩ này không chỉ biết sáng tạo ra muôn loài mà còn biết tự thẩm định, đánh giá tác phẩm của mình là đẹp: Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ...Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp![2]
Trình thuật trong sách Sáng Thế đã cho thấy Thiên Chúa vừa là Đấng Tạo Hóa vừa là một nghnhân tài ba. Tuy nhiên, “người sáng tạo” và “nghệ nhân” thì khác nhau. Theo Đức Cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II: “Người sáng tạo là người mang tới sự hiện hữu, đưa một sự gì đó ra khỏi cõi hư vô, như ngạn ngữ La-tinh thường nói: “ex nihilo sui et subjecti” (từ hư vô của mình và của chủ thể), và hiểu cho chặt nghĩa thì đây là cách hoạt động của một mình Đấng Tối Cao. Trái lại, “nghệ nhân” sử dụng một vật gì đó đã có, rồi cho nó một hình dạng và một ý nghĩa. Đây là cách hoạt động riêng của con người, một hữu thể đã được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. [3]
Như vậy, chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng Sáng Tạo. Nơi Ngài, hay nói cách khác chính Ngài là cái đẹp tuyệt đối, cái đẹp hoàn bị, là cội nguồn sáng tạo, là đỉnh cao của mọi hoạt động nghệ thuật của con người. Con người chỉ được tạo dựng nên theo hình ảnh vô cùng đẹp đẽ của Thiên Chúa và chính Ngài đã trao phó cho con người nhiệm vụ thống trị mặt đất.[4] Hơn thế nữa, con người còn được Thiên Chúa mời gọi cng tác vào công trình sáng tạo qua việc giao cho con người nhiệm vụ của những nghệ nhân. Chính qua “hoạt động sáng tạo nghệ thuật” ấy mà hơn bao giờ hết, con người cho thấy mình “giống Thiên Chúa”.[5]
Cái đẹp thụ tạo, cái đẹp do những nghệ nhân làm ra, hay cái đẹp của thiên nhiên vũ trụ chỉ là phản ảnh phần nào cái đẹp của Thiên Chúa, như trong thư gửi cho các nghệ sĩ, Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã khẳng định điều đó:Cái đẹp là chìa khoá mở cửa mầu nhiệm và là tiếng gọi mời ta vươn lên cao. Đó cũng là tiếng nói mời gọi ta cảm nếm cuộc sống và mơ về tương lai. Chính vì thế, cái đep của thụ tạo không bao giờ có thể làm ta cảm thấy thoả mãn hoàn toàn. Nó khơi dậy nỗi nhớ nhung thầm kín về Thiên Chúa, một sự thật mà chỉ có người mê say cái đẹp như thánh Augustinô mới diễn tả được một cách tuyệt vời như sau: “Con yêu Chúa quá muộn màng, ôi vẻ đẹp rất xưa mà rất mới; con yêu Chúa quá muộn màng”[6].
2.Bí tích Thánh Thể - nghệ thuật bày tỏ tình yêu.
2.1.                        Tình yêu tự hiến – đỉnh cao của cái đẹp.
Tình yêu nam nữ nói riêng, tình yêu giữa con người với nhau nói chung đa phần là tình yêu qua lại, cho – nhận. Riêng chỉ có tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người là tình yêu tự hiến, tức là tình yêu trao ban nhưng không. Tình yêu này trỗi vượt trên mọi tình yêu của con người. Có thể nói tình yêu tự hiến là đỉnh cao của cái đẹp. Thiên Chúa là cội nguồn, là nguyên nhân và cũng là cùng đích của mọi cái đẹp, thế nên tình yêu của Thiên Chúa với con người cũng là tình yêu trỗi vượt. Tình yêu đấy vĩnh cửu và mang cái đẹp hoàn bị, “cái đẹp cứu rỗi thế giới” [7] như thi hào người Nga Mikhailovich Dostoyevsky đã từng nói.
2.1.1.                        Cái đẹp của tình yêu tự hiến thể hiện qua sự từ bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa của Đức Kitô.
Trước hết, Cái đẹp của tình yêu tự hiến thể hiện qua sự từ bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa mà Đức Giê-su Ki-tô đã làm hầu cứu độ con người. Thật ra, nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa đã manh nha được nói đến ngay từ những trang đầu trong Sáng Thế Ký, sau khi con người đầu tiên phạm tội:Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."[8] Trải qua thời gian dài của lịch sử, vào thời viên mãn thì lời hứa cứu độ ấy được thực hiện qua việc Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Chính Người là Em-ma-nu-en, là Đấng Mê-si-a và là Đức Ki-tô, Đấng đã được các ngôn sứ loan báo từ trong Cựu Ước, chính Người sẽ cứu độ con người ra khỏi nô lệ của tội lỗi.[9] Thật vậy, trong thư gửi cho tín hữu Phi-líp-phê thánh Phao-lô đã nói rõ: “Ðức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” [10]
Như vậy, hành động khước từ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa của Đức Ki-tô đã làm toát lên vẻ đẹp của sự từ bỏ. Sự từ bỏ của Đấng Hằng Hữu để trở nên giới hạn trong thân phận hữu hạn của con người. Sự từ bỏ của Đấng Sáng Tạo, cội nguồn của cái đẹp hoàn bị lại giới hạn cái đẹp của mình trong cái đẹp chóng tàn của thân phận con người. Nhưng chính sự từ bỏ cái đẹp hoàn bị nơi mình lại là lúc cái đẹp nơi Người được tôn vinh, được mặc khải cho muôn người.
2.1.2.                        Cái đẹp của tình yêu tự hiến thể hiện qua việc Đức Ki-tô hy sinh mạng sống của mình hầu cứu độ muôn người.
Kế đến, Cái đẹp của tình yêu tự hiến thể hiện qua việc Đức Ki-tô hy sinh mạng sống của mình hầu cứu độ muôn người. Thật vậy, “trước kia, hiện nay cũng như sau này, không có một ai mà Đức Ki-tô không chịu khổ nạn cho”[11]. Hội thánh tuyên xưng như thế và đây là một yếu tố trung tâm của đức tin Ki-tô giáo. Đức Ki-tô đã không chết cách tình cờ, cái chết của Người không phải là một tai nạn bi thảm hoặc một sự kiện ngẫu nhiên. Cái chết đó thuộc về kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ngài cho phép xảy ra những hành vi xuất phát từ sự mù quáng của con người để hoàn thành kế hoạch cứu độ của Ngài.[12] Cái chết của Đức Ki-tô đã khơi gợi một cái đẹp viên mãn. Cái đẹp đó là sự tự nguyện chịu chết như một hy lễ, một hy lễ tuyệt hảo[13]. Hy lễ ấy tuyệt hảo vì là hy lễ của tình yêu: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống cho bạn hữu”[14] Chỉ có tình yêu mới có thể giao hòa thực sự. Bằng tình yêu vô tận, Đức Ki-tô đền thay cho “sự thiếu vắng tình yêu” trong mọi tội lỗi của loài người. Tình yêu vô tận ấy chỉ có được nơi Đức Ki-tô: “Không một ai, dù là người thánh thiện nhất, có khả năng mang lấy trên mình tội lỗi của mọi người và hiến mình làm hy lễ vì mọi người. Nơi Đức Ki-tô, sự hiện hữu của Ngôi Vị Chúa Con vừa vượt hẳn vừa bao gồm tất cả các nhân vị, khiến cho Đức Ki-tô là Đầu của toàn thể nhân loại, và làm cho hy tế của Người có giá trị cứu chuộc tất cả mọi người[15].
Như vậy, qua hành động hy sinh mạng sống,“Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh[16] đã vẽ lên bức tranh buồn của cái chết, của tang tóc. Nhưng bức tranh ấy lại chứa đựng cái đẹp sâu lắng, cái đẹp của màu tím hy vọng, cái đẹp ẩn sâu bên dưới hình ảnh cái chết là sự sống vĩnh cửu bởi “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.”[17]
2.1.3.                        Cái đẹp của tình yêu tự hiến được thể hiện qua việc Đức Ki-tô đã mở ra một thực tại mới.
Cuối cùng, Cái đẹp của tình yêu tự hiến được thể hiện qua việc Đức Ki-tô đã mở ra một thực tại mới cho loài người, sống chiều kích cánh chung ngay thực tại này qua việc mời gọi Ki-tô hữu lãnh nhận Mình Máu Thánh Người. Đó là cái đẹp của sự hiệp nhất. Thật vậy, chủ thể của vẻ đẹp sâu xa của phụng vụ là chính Chúa Ki-tô, phục sinh và vinh quang trong Chúa Thánh Thần, Đấng bao quát Giáo Hội trong công trình của Người.[18] Nên chính Đức Ki-tô mời gọi cộng đoàn phụng vụ hiệp nhất với cái đẹp sâu xa này qua việc rước Mình Máu Người. Cao điểm của Thánh lễ là lời vinh tụng ca: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mà mọi danh dự và vinh quang đều qui về Chúa là Cha toàn năng, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời,”[19] nên việc hiệp lễ là lúc Ki-tô hữu được nên một với Đức Ki-tô, từ đó nên một với Chúa Cha, trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần. Đức Ki-tô mời gọi cộng đoàn dân Chúa nên một với Người như hình ảnh cành nho gắn liền với thân cây nho[20], Người chính là đầu của chi thể[21], Người luôn khao khát đoàn chiên của Người hiệp nhất với Người trong Chúa Cha[22]…Việc đáp lại lời mời gọi nên một với Đức Ki-tô của linh mục chủ tế - “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa” – đã cho thấy cái đẹp của sự hiệp nhất.
Cái đẹp của sự hiệp nhất trước hết được thể hiện qua hành vi bẻ bánh của linh mục chủ tế. Một hành động tuy nhỏ, và ngày nay dường như ít được chú ý trong Thánh lễ nhưng lại mang nhiều ý nghĩa cao quý. Một trong những ý nghĩa cao quý của hành động bẻ bánh nói lên sự hy sinh mạng sống của Đức Ki-tô. Hành động bẻ bánh là điểm nhấn trong bức tranh của tình yêu tự hiến. Bẻ ra là chấp nhận hy sinh, chấp nhận chết. Qua  đó, Đức Ki-tô trao ban chính mình Người để những ai “ăn thịt và máu tôi thì được sống muôn đời.”[23] Thật vậy, cái đẹp của hành vi bẻ bánh mà Đức Ki-tô đã làm, Người cũng mời gọi cộng đoàn phụng vụ tự bẻ thân mình cho tha nhân. Không phải là để chết như Người, nhưng là hiến thân phục vụ như Người đã phục vụ “Con Người đến để phục vụ chứ không phải được phục vụ.”[24]
Kế đến, cái đẹp của sự hiệp nhất còn thể hiện qua việc cộng đoàn phụng vụ được trở nên chính cái mà họ lãnh nhận. Thật vậy, nhờ tham dự vào Thánh Thể, tức nhờ Hiệp Lễ, Ki-tô hữu thực sự trở thành ‘cái mà họ ăn’ như Đức Lê-ô cả viết: “tham dự vào Mình và Máu Chúa Ki-tô có mục đích duy nhất là biến ta thành cái mà ta ăn” (Bài giảng 12 về Cuộc Thương Khó, 7).[25] Chính khi trở nên “cái mà họ ăn” cộng đoàn phụng vụ được tháp nhập trọn vẹn vào bản tính Thiên Chúa, được nên một với Đức Ki-tô, trong Chúa Cha và trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần. Cái đẹp ở đây được thể hiện qua việc một thụ tạo vốn chỉ là cái đẹp khiếm khuyết nay được tháp nhập vào cái đẹp hoàn bị, cái đẹp trường cửu, cái đẹp cổ xưa và hiện đại.[26] Khi được nên một với Đức Ki-tô qua hiệp lễ thì Ki-tô hữu được hiệp thông với Mình và Máu Chúa Ki-tô, hiệp thông với toàn thể cuộc sống và cái chết của Người. Do đó người Ki-tô hữu có thể cảm nghiệm toàn bộ cuộc sống của Người. Từ đó có thể chia sẻ và làm sống lại cuộc sống của Đức Ki-tô nơi chính cuộc sống của mình[27] như thánh Phao-lô đã xác tín “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là chính Đức Ki-tô sống trong tôi, đời sống của tôi lúc này trong thân xác, tôi sống nó trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và phó nộp mình vì tôi.”[28]
Cuối cùng cái đẹp của sự hiệp nhất thể hiện qua việc Ki-tô hữu được nên một với Hội thánh và với nhau. Nghi thức hiệp lễ được bắt đầu từ việc cả cộng đoàn phụng vụ đọc Kinh Lạy Cha.[29] Điều đó là nổi bật tình huynh đệ trong công đoàn phụng vụ. Thật vậy, lời Kinh Lạy Cha không chỉ là lời chúc tụng, cầu xin lên Chúa Cha mà Đức Ki-tô đã dạy, nhưng còn cho thấy tất cả mọi người là anh chị em với nhau, cùng thưa lêm “Ab-ba, cha ơi!”[30]  Hình ảnh đức Ki-tô là đầu của Hội thánh[31] và mỗi người là chi thể được nổi bật khi cộng đoàn cử hành phụng vụ và nhất là khi cộng đoàn ăn cùng một tấm bánh, uống chung một chén. Thánh Phao-lô đã xác tín điều này: “Khi ta nâng chén tạ ơn mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Ðức Ki-tô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.”[32]
Như vậy, khi rước Mình Máu Thánh Chúa, người tín hữu được sống thực tại mới. Một thực tại cánh chung ngay ở đời này. Điều này làm sáng lên vẻ đẹp của sự hiệp nhất. Nơi đây “không còn Do Thái hay Hi lạp; không còn nô lệ hay tự do, không còn nam hay nữ; vì hết thảy anh em là một trong Ðức Ki-tô Giê-su.[33] Hành động hiệp lễ thể hiện rõ nét cái đẹp của sự hiệp nhất. Chính khi lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa là lúc người Ki-tô hữu được hiệp nhất với Đức Ki-tô, hiệp nhất với Giáo hội và hiệp nhất với nhau. Cái đẹp ở sự hiệp nhất này tưởng như muôn màu sắc hòa quyện, vẽ lên một tuyệt tác bằng bàn tay khéo léo của Thiên Chúa. Chính Ngài là nghệ sĩ tài ba đã khéo quy tụ muôn màu sắc thụ tạo, để rồi chính Ngài hòa sắc muôn màu thụ tạo đó bằng chính Mình Máu Con của Ngài. Trong tuyệt tác này, Người Nghệ Sĩ, Đấng Sáng Tạo ấy đã tự hủy chính vẻ đẹp hoàn bị của mình để mặc lấy muôn màu thọ tạo hầu có thể sáng tạo một bức tranh mới. Bức tranh được vẽ bằng sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa và con người. Bức tranh diễn tả khung cảnh chung quyết của muôn loài. Bức tranh diễn tả rõ nét, không lờ mờ như trong một tấm gương, nhưng là mặt giáp mặt.[34]
Tóm lại, Cái đẹp nơi Bí tích Thánh Thể trước hết là Hy Tế Thập Giá của Đức Ki-tô hiến ban cho con người. Thánh Thể là bằng chứng cao nhất về tình yêu Thiên Chúa ban tặng cho con người, là bảo chứng tình yêu cứu độ được hiến tế trên thập giá. Nơi Bí tích Thánh Thể Đức Ki-tô tiếp tục hiện diện để ban ơn và chuyển cầu cho dân người,[35] và Người luôn mời gọi người tín hữu nên một với Người như Người nên một Chúa Cha trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần[36] qua việc hiệp lễ cũng như tôn thờ Đức Ki-tô nơi Bí Tích Thánh Thể.
2.2.                        Nghệ thuật trong cách thức thể hiện tình yêu.
Trong cuộc sống, khái niệm nghệ thuật được dùng với nhiều nghĩa như: nghệ thuật có thể được cho là đồng nghĩa với một tài nghệ nào của con người, cũng có thể nghệ thuật dùng để chỉ hoạt động sáng tạo theo nguyên tắc của cái đẹp. Nhưng với tác giả của tác phẩm Chiến Tranh và Hòa Bình - Lev Tolstoy (1828-1910) đã định nghĩa “nghệ thuật như một hình thức truyền đạt các cảm xúc mà một người đã trải qua tới những người khác, khiến cho những người này cũng bị lây nhiễm các cảm xúc đó và thấy như mình cũng trải qua những kinh nghiệm đó.”[37] Thật vậy, nghệ thuật có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người. Chính nhờ nghệ thuật mà con người có thể truyền đạt cảm xúc của mình cho người khác, từ đó thắt chặt hơn tình người, xua tan mọi ngăn cách và đẩy lùi những cái xấu xa để nhường chỗ cho cái đẹp, cái chân, cái thiện.
Nghệ thuật được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Từ những sáng tạo nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, điện ảnh, …đến những lãnh vực rộng hơn như nghệ thuật nói chuyện, nghệ thuật lắng nghe, nghệ thuật thuyết giảng, nghệ thuật bán hàng, …Tuy nhiên, có thể nói nghệ thuật là nơi bày tỏ tình yêu. Bởi tình yêu được biết đến như là cái tinh túy nhất của con người. Tình yêu không chỉ đơn thuần là “một trạng thái tình cảm của chủ thể này với chủ thể khác ở mức độ cao hơn sự thích thú và phải nảy sinh ý muốn được gắn kết với chủ thể đó ở một khía cạnh hay một mức độ nhất định [38], nhưng tình yêu đó còn là A-ga-pe – một thứ tình yêu trọn vẹn, cho đi tất cả: “Thiên Chúa yêu mến thế gian đến nỗi ban Con một mình cho thế gian”[39] Chính trong tình yêu A-g-a-pe này, Đức Ki-tô đã có cách thức thể hiện tình yêu mang đầy yếu tố nghệ thuật.
Trước hết, trong cách thức thể hiện tình yêu, Đức Ki-tô đã thể hiện ra với sự sáng tạo mới và độc đáo. Có thể nói, nghệ thuật là nơi bày tỏ tình yêu. Nhiều tình yêu đẹp được tìm thấy trong nghệ thuật. Có tình yêu quê hương đất nước, có tình yêu gia đình giữa các thành viên với nhau, có tình yêu đồng loại, tình yêu thiên nhiên vũ trụ...Chủ đề tình yêu chiếm một mảng lớn trong lĩnh vực nghệ thuật nói riêng và trong cuộc sống nói chung. Vì con người luôn khao khát tình yêu và luôn muốn được sống với tình yêu mà mình khao khát. Đôi khi tình yêu cũng đồng nghĩa với hạnh phúc. Vì yêu, nhiều người có thể làm được nhiều điều tưởng chừng như không thể. Như Hòn Vọng Phu yêu chồng, chờ chồng cho đến khi hóa đá, hay Rô-mê-ô và Ju-li-ét dám uống thuốc tự tử để có thể được ở bên nhau...Khi yêu nhau người ta có thể làm mọi thứ cho nhau để thể hiện tình cảm của mình với người yêu. Ca dao tục ngữ Việt Nam của có câu: “yêu nhau mấy núi cũng leo, mấy sống cũng lội mấy đèo cũng qua” hoặc “yêu nhau cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.” Tình yêu rất đẹp, lãng mạn, tình tứ. Mỗi người có cách bày tỏ tình yêu của mình ra bên ngoài khác nhau. Tuy nhiên, tình yêu của Chúa Giê-su nơi Bí tích Thánh Thể có một sự khác biệt, nếu không muốn nói là vượt trội hơn tình yêu giữa con người với nhau. Tình yêu của Đức Ki-tô trước hết là tình yêu của Đấng Sáng Tạo với những tạo vật do chính Ngài dựng nên. Kế đến, lịch sử Cứu độ cho thấy Thiên Chúa dùng nhiều cách thức để thể hiện tình yêu của mình cho nhân loại. Cuối cùng với sáng tạo độc đáo trong cách thức thể hiện tình yêu, Thiên Chúa, qua hình ảnh Ngôi Lời đã cho thấy rõ nét nhất tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người như thế nào. Đó là hy sinh chịu chết hầu hầu muôn người được sống. Thật vậy, người ta khi yêu nhau có thể làm mọi thứ cho nhau, nhưng ít ai có thể hy sinh và cho đi chính mạng sống của mình. Đức Ki-tô không chỉ cho đi mạng sống mà còn hiến thân mình làm của ăn nuôi sống người mình yêu. Có thể khẳng định từ cổ chí kim chưa ai dám và thể hiện tình yêu một cách độc đáo và sáng tạo như thế ngoại trừ Đức Ki-tô.
Kế đến, tình yêu của Đức Ki-tô không những có sáng tạo mà còn được nhiều người chấp nhận và thán phục. Không chỉ có người Công giáo mà tất cả những ai tin vào Đức Ki-tô đều chấp nhận tình yêu tự hiến của Người. Khi yêu nhau, người ta luôn muốn nên một, là của nhau, thuộc về nhau cả về thể xác và tinh thần. Nhưng thuộc về nhau như thế nào đây? Cho dù nhiều người khi yêu có kết hợp với người mình yêu như thế nào đi nữa thì hai người vẫn là hai nhân vị khác nhau. Đức Ki-tô đã biến Mình làm của ăn, để muôn người được tháp nhận vào thiên tính của Ba Ngôi Thiên Chúa. Mỗi khi Ki-tô hữu rước Mình Máu Thánh Chúa là rước lấy chính Chúa, được hòa tan vào tình yêu của Chúa được nên một với Chúa cả về thể xác lẫn tinh thần.
3.Kết luận.
Tóm lại, tình yêu của Đức Ki-tô thể hiện nơi Bí Tích Thánh Thể mang giá trị nghệ thuật cao. Bằng sáng kiến độc đáo, Thiên Chúa đã sai Con một mình đến thế gian để làm thức dậy cái đẹp vốn đã bị thế gian làm cho xấu đi bởi tội lỗi và bất toàn. Hành động này quả thật mới lạ và khác biệt hoàn toàn với những suy nghĩ vốn hạn hẹp của con người thế nên “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.[40] Hơn thế nữa con người còn “giết chết Đấng khơi nguồn sự sống.”[41] Tuy nhiên, chính khi con người khước từ Đấng vốn giàu lòng từ bi và nhận hậu, Đấng mang trong mình cái đẹp hoàn bị thì cũng là cái đẹp ấy, tình yêu ấy được tôn vinh. Thánh Au-gus-ti-no cả một đời tìm kiếm cái đẹp thụ tạo, cái đẹp chóng qua để rồi cuối đời thốt lên rằng: “Ôi vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại, con đã yêu Ngài quá muộn![42] Vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại đó vẫn âm thầm hiện diện nơi Bí Tích Thánh Thể chờ đón những ai lạc bước trở về. Để khi lãnh nhận lấy chính vẻ đẹp cổ xưa và hiện đại này người tín hữu không những làm sáng lên cái đẹp nơi mình mà còn được tháp nhập vào cái đẹp vĩnh cửu, cái đẹp hiệp nhất trong thời viên mãn.

MAPHUC,SSS





[1] Nguyễn Hưng, Nghệ Thuật Công Giáo, (NXB Đồng Nai, 2011), tr. 1173.
[2] Xc. St 27-31.
[3] Nguyễn Hưng, Nghệ Thuật Công Giáo – Thư Đức Cố Giáo Hoàng Gio-an Pha-lô II Gửi Các Nghệ Sĩ, (NXB Đồng Nai), 2011, tr. 159.
[4] Xc. St 1, 27-28.
[5]Nguyễn Hưng, Nghệ Thuật Công Giáo – Thư Đức Cố Giáo Hoàng Gio-an Pha-lô II Gửi Các Nghệ Sĩ, (NXB Đồng Nai), 2011, tr. 159.
[6] Nguyễn Hưng, Nghệ Thuật Công Giáo, NXB Đồng Nai, 2011, tr.173.

[7] Scandal "hậu" HHVN 2012: Cái đẹp cứu rỗi được ai?, http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/87055/scandal--hau--hhvn-2012--cai-dep-cuu-roi-duoc-ai-.html, truy cập 7/4/2014.  

[8] St 3, 15.
[9] xc. Hr 1, 1-2.
[10] xc. Pl 2, 6-8.
[11] GLHTCG, số 605.
[12] Xc. ĐHY Christoph Schönborn, Đức Ki-tô Chịu Chết Vì Chúng Ta, http://tailieuthanhmau.net/TL-01-ABC/Tim%20Hieu%20Sach%20GLHTCG/Bai%2028.htm,  truy cập 13/5/2014.
[13] GLHTCG, số 613.
[14] Xc. Ga 15, 13.
[15] GLHTCG, số 616.
[16] Xc. 1Cr 15,3.
[17] Xc. Ga 11, 25.
[18] Sacramentum Caritatis, số 36.
[19]Nghi thức Thánh Lễ.
[20] Xc. Ga 15.
[21] Xc Cl 1, 18.
[22] Xc. Ga 17, 11.
[23] Xc. Ga 6, 54.
[24] Xc. Mc 10, 45.
[25] Nguyễn Phúc Thuần, Hiệu Quả Của Hiệp Lễ, (Tủ Sách Thánh Thể, Houston, 2002), tr. 1.
[26] Thánh Augustino, Tự Thuật, (NXB Tôn Giáo, 2007), tr. 608.
[27] Nguyễn Phúc Thuần, Hiệu Quả Của Hiệp Lễ, (Tủ Sách Thánh Thể, Houston), 2002, tr. 6.
[28] Xc. Gl 2, 20.
[29] Phạm Đình Ái, Cao Cả Thay Mầu Nhiệm Cứu Độ, (NXB Phương Đông, 2014), tr.137.
[30] Xc. Rm 8, 15.
[31] Xc. Cl 1, 18.
[32] Xc. 1Cr 10, 16-18.
[33] Xc. Gl 3, 28.
[34] Xc. 1Cr 13, 12.
[35] Xc. Dt 7,25.
[36] Xc. Ga 15, 22-23.
[37] Nguyễn Đình Đăng, Nghệ Thuật Là Gì?, http://ribf.riken.go.jp/~dang/whoarewe/Nghethuatlagi.htm, truy cập 13/5/2014.
[39] Ga, 3,16
[40] Xc. Ga 1, 11.
[41] Xc. Cv 1, 15.
[42] Thánh Augustino, Tự Thuật, (NXB Tôn Giáo, 2007), tr. 608.

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

Chập Chững Theo Chúa




Nếu như cha xứ, Ban Hành Giáo và mọi người đã tạo điều kiện rất tốt cho các anh chị em dự tòng học đạo và giữ đạo, nếu như anh chị em dự tòng nhiều người rất thích thú, tha thiết theo đạo thì tại sao tỷ lệ bỏ đạo sau khi rửa tội lại quá lớn? Phải chăng giáo lý Công giáo chỉ là một mớ lý thuyết hấp dẫn nhưng không thực tế?

Trên đây là suy nghĩ của chúng tôi sau khi đến với giáo xứ Khiết Tâm, giáo phận Sài Gòn vào buổi học khai giảng các lớp giáo lý dự tòng và hôn nhân, khóa I, năm học 2014. Buổi học đầu tiên của khóa học giáo lý dự tòng 2014 được bắt đầu lúc 19g30 và kết thúc lúc 21g00, ngày 22/2/2014, tại Nhà Mục Vụ, giáo xứ Khiết Tâm, giáo phận Sài Gòn.
Rất đông anh chị em dự tòng đã có mặt đầy đủ và đúng giờ. Được biết, trước đó một tuần, những ai muốn học giáo lý dự tòng đã phải đăng ký tên và đóng lệ phí. Tuy nhiên, trong ngày khai giảng vẫn có rất đông các bạn trẻ đến đăng ký tên. Điều đó khiến cho các nhân viên ở văn phòng mục vụ rất vất vả mới có thể sắp xếp và ổn định lớp cho các anh chị em dự tòng.
Với 4 lớp dự tòng và mỗi lớp trên 40 bạn, không khí tại Nhà Mục Vụ trở nên náo nhiệt khác thường. Sau khi nhận lớp, anh chị em dự tòng nhanh chóng ổn định chỗ ngồi và bước vào tiết học đầu tiên. Rảo quanh một lượt, chúng tôi nhận thấy hầu hết cả người giảng dạy – quý tu sĩ Dòng Thánh Thể và học viên đã nhanh chóng làm quen và hồ hởi với buổi học đầu tiên.
Khóa học sẽ được kéo dài trong 6 tháng, bắt đầu từ 2/2014 đến tháng 8/2014.


1.      Một khởi đầu thuận lợi cho hành trình theo Chúa

Chúng tôi đến giáo xứ Khiết Tâm, tọa lạc tại số 15, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, vào những ngày cuối của Mùa Chay, 2014. Những ngày này, không khí trở nên ngột ngạt hơn giữa những tháng nóng nhất trong năm. Chúng tôi bước vào văn phòng Mục vụ giáo xứ Khiết Tâm với một sự ngạc nhiên không nhỏ. Đó là một gian phòng tầng trệt sáng, rộng, đầy đủ tiện nghi, vài bức tranh và mấy bình hoa khô trang trí làm cho bầu khí căn phòng thêm vui tươi. Thêm vào đó, các cô chú làm ở văn phòng Mục Vụ Di Dân luôn có thái độ niềm nở vui tươi với mọi người, đặc biệt với các học viên mặc dầu rất bận rộn với công việc sổ sách. Rất đông các bạn trẻ lui tới khu vực này, kẻ ra, người vào, cười nói rộn rã. Thăm hỏi một vài bạn trẻ đang cầm trên tay tờ giấy đăng ký, chúng tôi mới biết các bạn đến đăng ký học giáo lý dự tòng và hôn nhân. Mặc dầu đã được thông báo phải đăng ký học trước ngày khai giảng một tuần, nhưng vẫn có rất đông các bạn trẻ đến đăng ký học vào ngày này.
Rảo quanh một vòng khu nhà Mục vụ, chúng tôi thấy có nhiều phòng học được trang bị đầy đủ tiên nghi cho việc giảng dạy và học tập. Nhiều phòng còn có cả máy lạnh và ti vi. Với hơn 20 phòng học và các phòng chức năng, nhà Mục vụ giáo xứ Khiết Tâm có thể đáp ứng tốt nhu cầu học giáo lý dự tòng và hôn nhân không chỉ cho giáo dân trong giáo xứ mà phần lớn là giáo dân di dân từ các tỉnh thành trong cả nước đến đây làm ăn sinh sống. Điều đó đã cho thấy cha xứ và Ban Hành Giáo đã rất quan tâm đến công việc mục vụ của giáo xứ. Trước giờ khai giảng, bác I-nha-xi-ô Vũ Văn Sức, trưởng phòng Mục Vụ Giáo Lý Dự Tòng và Hôn Nhân cho biết: “Cha chánh xứ đã rất quan tâm đến những công việc mục vụ cho di dân, đặc biệt là việc giảng dạy giáo lý dự tòng và hôn nhân. Cha xứ tuy chỉ mới về xứ được hai năm, nhưng ngài đã có những hành động thiết thực nhằm đẩy mạnh cộng việc mục vụ di dân. Rõ ràng nhất là ngài đã cùng với Ban Hành Giáo vừa mới tu sửa lại nhà Mục vụ giáo xứ và đưa vào sử dụng vào ngày 1/1/2014, nhân ngày lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa – bổn mạng giáo xứ. Ngoài ra ngài còn tổ chức các buổi giao lưu, họp mặt cho các anh chị dự tòng và tân tòng. Hơn nữa, trong công việc giảng dạy giáo lý, ngài cũng dành riêng cho quý thầy Học Viện Dòng Thánh Thể. Theo ngài, quý thầy đã được trang bị những kiến thức thần học, cũng như kỹ năng sư phạm nên có thể giảng dạy tốt nhất cho anh chị em dự tòng.”
Nhiều học viên lần đầu đến với các lớp học của giáo xứ đã rất hài lòng về cơ sở vật chất cũng như người giảng dạy. Bạn Đỗ Nhật Tân, quê Bình Dương cho biết rất hài lòng với cung cách làm việc của các cô chú ở văn phòng. Với quý thầy, bạn Tân cho rằng: “quý thầy dạy học rất tâm huyết, nhiệt tình, và rất thân thiện với học viên.” Cũng cùng quan điểm trên, bạn Trần Thúy Hằng, quê Long An, 19 tuổi đã học giáo lý dự tòng được hơn ba tháng bày tỏ: “quý thầy rất vui và kiên nhẫn. Những gì chúng em không hiểu hỏi lại, các thầy cũng giảng giải thật chậm và đưa ra những ví dụ vui nhộn.” Thật vậy, với những gì chúng tôi chứng kiến trong ngày khai giảng các lớp giáo lý dự tòng và hôn nhân đã cho thấy cha xứ và Ban Hành Giáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các học viên. Phải nói rằng, anh chị em dự tòng đã có một khởi đầu thuận lợi trong những bước đầu theo Chúa.

2.      Vùng đất an lành, trù phú – nơi nối kết yêu thương

Mặc dù chỉ nằm ở vùng ven thành phố Hồ Chí Minh, thế nhưng giáo xứ Khiết Tâm là một giáo xứ luôn sầm uất và náo nhiệt. Sự sầm uất và náo nhiệt này là do giáo xứ nằm kề bên quốc lộ 1A, gần chợ và trường học. Ngoài ra, xung quanh giáo xứ còn có các khu công nghiệp lớn như: khu công nghiệp Sóng Thần 1, khu công nghiệp Sóng Thần 2, khu công nghiệp Bình Chiểu… Có thể nói, đây là vùng đất an lành và trù phú. Sự an lành và trù phú của vùng đất này trước hết là do tính cách của người dân nơi đây rất hiền hòa và thân thiện. Kế đến, vùng đất này trở nên trù phú một phần là do nằm kề bên trục đường chính đi các tỉnh miền Tây, thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, buôn bán, trao đổi hàng hóa; phần còn lại là do vùng đất này có các khu công nghiệp lớn nên đáp ứng được nhu cầu lao động của nhiều người, chủ yếu là lao động phổ thông. Bên cạnh đó, mức chi tiêu tại khu vực này cũng thấp hơn các khu vực xung quanh như trung tâm thành phố, Biên Hòa, Bình Dương… Chính vì thế, địa bàn giáo xứ và khu vực xung quanh đã thu hút rất nhiều di dân từ khắp các tỉnh thành trong cả nước đến đây làm ăn sinh sống.
Giáo xứ Khiết Tâm đã được Đức Cố Giám mục Phao-lô Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám mục Giáo phân Sài gòn ủy thác cho các cha Dòng Thánh Thể phụ trách từ năm 1971. Trải qua nhiều biến cố, đến nay các  cha Dòng Thánh Thể vẫn đang chăm sóc trên 5000 giáo dân chính thức. Ngoài ra còn có hơn 10.000 di dân Công giáo cũng thường xuyên sinh hoạt đạo đức tại giáo xứ. Đứng trước những tình thế mới của thời đại, quý cha Dòng Thánh Thể, từ Tu Nghị Tỉnh lần thứ nhất (2008) đã đặt mục vụ cho người di dân là một trong năm sứ vụ ưu tiên của Dòng. Đến nay, giáo xứ Khiết Tâm đã có những hoạt động cho người di dân như Thánh lễ Chúa Nhật dành cho di dân lúc 19g, thường xuyên mở các lớp giáo lý dự tòng, giáo lý hôn nhân, Lớp Giáo lý di dân Hiệp nhất, ca đoàn di dân…
Chính vì giáo xứ Khiết Tâm có khá đông giáo dân, kể cả giáo dân di dân, cũng như nằm ở vị trí thuận tiện, thêm vào đó khuôn viên nhà thờ giáo xứ có không gian rộng, thoáng, xung quanh được trồng nhiều cây dầu luôn tỏa bóng mát, nên nhà thờ giáo xứ thường xuyên là nơi tổ chức các đại hội, họp mặt từ cấp giáo phận, giáo hạt, hoặc các hoạt động của các cha Dòng Thánh Thể. Do vậy, nơi đây đã thu hút và trở thành nơi phụng tự cũng vui chơi giải trí không những cho giáo dân trong xứ mà còn cả những di dân sinh sống xung quanh. Vì thế, nhà thờ giáo xứ Khiết Tâm trở thành môi trường thuận lợi cho việc liên kết mọi người trong yêu thương.
Thật vậy, các sinh hoạt mục vụ của giáo xứ đã thu hút nhiều người, kể cả những người không cùng niềm tin Công giáo. Rất nhiều các cặp vợ chồng trong giáo xứ cho rằng họ quen biết nhau khi tham gia các hội đoàn hoặc các sinh hoạt của giáo xứ, từ đó tiến đến hôn nhân. Cũng vậy, nhiều bạn trẻ di dân Công giáo quen biết với những người ngoài Công giáo nơi công ty, nhà trọ, cộng với việc các bạn thường xuyên tham gia các sinh hoạt dành cho di dân của giáo xứ nên đã lôi kéo nhiều người ngoài Công Giáo theo học đạo. Tuy nhiên, phần lớn những người theo học đạo là do kết hôn. Bạn Nguyễn Tuấn Anh, 21 tuổi, quê ở Hà Nam cho biết: “Giáng sinh năm nào em cũng theo bạn đến đây, rất là vui và ý nghĩa. Bây giờ em đang theo học giáo lý dự tòng sau đó là giáo lý hôn nhân, kéo dài trong 9 tháng, nhưng em thấy vui vì mình được theo đạo.” Khi được chúng tôi đề cập đến lý do theo đạo thì bạn Nguyễn Thị Phương Oanh, quê Phú Thọ, 26 tuổi cho biết: “Em theo đạo vì trước đây đã có cảm tình với đạo, sau này quen người Công giáo nên khi theo đạo cảm thấy thích thú.”. Đồng cảm như trên, chị Hoàng Ngọc Mai, quê Thanh Hóa bày tỏ: “Mọi người Công giáo rất thân ái và đoàn kết. Tôi đã có cảm tình với đạo Chúa, nên khi người yêu của tôi nói tôi học đạo là tôi đồng ý liền.” Còn bạn Nguyễn Thị Quỳnh Như, quê Đồng Tháp, sinh năm 1991 là một trong số ít người theo đạo không do kết hôn đã giải bày cảm xúc: “Con được ngồi học giáo lý như thế này là hạnh phúc, nhưng con nghĩ con sẽ hạnh phúc gấp bội nếu được làm con Chúa.”

3.      Những thách đố giữa đời làm chao đảo bước chân
            Mặc dầu đã có những bước khởi đầu thuận lợi, thế nhưng cuộc sống của những người di dân tạm bợ, nay đây mai đó đã khiến cho rất nhiều anh chị em tân tòng không đứng vững trong đức tin. Điều đó cũng góp phần không nhỏ khiến các cặp hôn nhân dị giáo đỗ vở. Phần lớn số tân tòng bỏ đạo là do gặp phải những khủng hoảng về những khó khăn trong cuộc sống, về đời sống gia đình…, đặc biệt khủng hoảng về niềm tin đã khiến cho không ít các anh chị em dự tòng bỏ đạo chỉ sau một thời gian ngắn theo đạo. Bác I-nha-xi-ô Vũ Văn Sức là người có kinh nghiệm lâu năm trong công việc văn phòng giáo lý dự tòng bày tỏ: Theo đạo tự tâm huyết thì hiếm, đa số theo đạo là do lấy vợ, hoặc lấy chồng. Nếu có Chúa Thánh Thần soi sáng thì có thể giữ đạo được, nhưng đa số vấp ngã giữa đường vì những lý do khó khăn trong cuộc sống.” Một bác giữ cổng, bảo vệ Nhà Thờ và Nhà Mục Vụ cho hay: “Người giữ đạo được hiếm lắm thầy ơi! Hồi tôi còn dạy giáo lý, nhiều đứa nhờ tôi cầm đầu, có đến mấy chục đứa, nhưng hiện giờ giữ đạo được chắc chưa tới mười đứa.” Cũng cùng quan điểm trên, cha Phê-rô Nguyễn Thế Trịnh, SSS - giám đốc thỉnh sinh Dòng Thánh Thể - cho rằng tỉ lệ bỏ đạo sau khi rửa tội khoảng 60 đến 70 phần trăm.
            Tìm hiểu về nguyên nhân bỏ đạo của anh chị em tân tòng chúng tôi thấy rằng bên cạnh những thuận lợi mà cha xứ cũng như Ban Hành Giáo cố gắng giúp cho anh chị em dự tòng và tân tòng thì vẫn còn rất nhiều khó khăn. Khó khăn thứ nhất là phần lớn các bạn trẻ theo học đạo để kết hôn, nên số đông đến học đạo cho hợp luật chứ không muốn theo đạo. Bạn Nguyễn Thị Phương Oanh, quê Phú Thọ, 26 tuổi cho hay: “Một số các bạn khác chỉ học đạo cho qua, vì để lập gia đình. Trong thâm tâm các bạn ấy thật sự không muốn theo đạo.” Còn bạn Phạm Văn Đồng , quê Nghệ An, 26 tuổi bày tỏ quan điểm: “Tôn giáo nào cũng không quan trọng, miễn là đời sống gia đình hòa hợp, hạnh phúc. Tôi theo đạo chỉ thuần túy vì lý do cưới vợ.”
            Kế đến, việc tiếp thu một giáo lý hoàn toàn mới lạ cũng góp phần khó khăn không nhỏ cho các học viên. Nói về những khó khăn trong việc giảng dạy Thầy Phê-rô Mai Quốc Anh,SSS thì cho rằng: “việc dạy dự tòng thì không khó, cái khó là cho họ được cảm thức đức tin.” Thật vậy, nhiều học viên không cảm nhận được đức tin hay hứng thú với việc học đạo, thậm chí rất nhiều bạn không biết cầu nguyện như thế nào. Chị Phạm Thị Thương, quê Thanh Hóa, 31 tuổi cho biết đã phải nỗ lực rất nhiều để chấp nhận giáo lý. Theo chị: “quả thật, giáo lý Công giáo có quá nhiều điều khó chấp nhận và khó hiểu.”
Ngoài ra vấn đề về thời gian cũng là một trong những khó khăn mà những người trong cuộc nêu lên. Thầy Đa-minh Nguyễn Hoàng Long, SSS cho biết: “thời gian học quá ngắn. Thêm vào đó, đa số các học viên là công nhân nên mỗi khi tăng ca hay bận việc là các bạn nghỉ học. Chính vì điều đó mà các bạn khó hiểu bài và chúng tôi cũng không có thời gian để thăm hỏi, khích lệ, hoặc giao lưu chia sẻ.” Nếu như người giảng dạy cho rằng thời gian quá ngắn để truyền đạt đức tin, thì nhiều học viên bảy tỏ thái độ không đồng ý, và cho rằng thời gian học kéo quá dài, trong khi đó các bạn đã chọn ngày cưới. Được biết, hàng năm giáo xứ Khiết Tâm mở từ hai đến ba khóa giáo lý dự tòng và hôn nhân. Thời gian học giáo lý dự tòng là 6 tháng, giáo lý hôn nhân là 3 tháng.
            Cuối cùng, nguyên nhân chính khiến anh chị em tân tòng bỏ đạo phải kể đến là do đời sống di dân nay đây mai đó, không có nơi ở và việc làm ổn định. Cuộc sống vất vả nơi vùng quê xa xôi đã khiết không ít các bạn trẻ vào Nam kiếm sống với hy vọng sẽ có cơ hội đổi đời, hoặc kiếm được một việc làm ổn định. Tuy nhiên, ở một thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh không dễ để làm ăn sinh sống, chưa nói đến các tệ nạn xã hội luôn cám dỗ, rình rập. Bên cạnh đó, còn có những yếu tố khác như sự kỳ thị vùng miền, khác biệt văn hóa, tôn giáo cũng khiến cho các bạn trẻ di dân khó hòa nhập với địa phương. Điều này dẫn đền việc nhiều bạn trẻ di dân thường xuyên thay đổi công ty, thay đổi việc làm, thay đổi môi trường sống…Chính những thay đổi này làm xáo trộn cuộc sống người di dân, là nguyên nhân dẫn đến hậu quả các tân tòng bỏ đạo bởi không có môi trường sinh hoạt đạo, ít người quan tâm nhắc nhở. Nhà thờ lại xa nơi ở không thuận tiện cho việc đi lại. Từ đó, các bạn tân tòng lơ là, hay ít đến nhà thờ, lâu dần sẽ bỏ đạo.

4.      Hãy để Chúa Thánh Thần làm việc và chính Ngài sẽ nâng đỡ bước chân của họ”

            Đứng trước tình hình các bạn trẻ di dân theo học đạo, sau đó bỏ đạo ngày một tăng, cha chánh xứ Phao-lô Ma-ri-a Nguyễn Thanh Quang, SSS cũng đã có những kế hoạch hỗ trợ, giúp đỡ cho anh chị em dự tòng và tân tòng. Ngoài những ưu tiên cho người dự tòng như đã đề cập trên, cha chánh xứ cũng lưu tâm đến việc giữ đạo của họ. Vào lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (2013), phối hợp với Ban Hành Giáo, văn phòng Mục Vụ Di Dân, cha xứ đã tổ chức buổi họp mặt cho các anh chị em dự tòng và tân tòng. Theo cha: “Qua buổi họp mặt này, chúng tôi muốn đồng hành, khích lệ, động viên các bạn tân tòng. Đặc biệt chúng tôi muốn hỏi han các bạn sau một năm sống đạo, qua đó nhắc nhở cũng như động viên các bạn trong việc giữ đạo và sống đạo. Chúng tôi hy vọng buổi họp mặt này sẽ trở thành buổi họp mặt truyền thống của anh chị em dự tòng và tân tòng, và sẽ được tổ chức hàng năm vào dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.”
Cha Phê-rô Nguyễn Thế Trịnh, SSS là người có kinh nghiệm lâu năm trong việc dạy giáo lý dự tòng. Ngài cũng có nhiều thao thức trước tình trạng nhiều anh chị em tân tòng bỏ đạo. Cha nói: “các học viên phải ý thức việc học đạo của mình. Không phải chỉ học đạo để lấy vợ, lấy chồng mà là để tin, để sống, để truyền lại đức tin đó và giáo dục con cái sau này. Chính vì thế học viên không được lơ là, hay có thái độ bất cần trong việc theo học giáo lý.” Với giáo lý viên thì cha luôn nhắc nhở: “ phải chú ý dạy thật kỹ cách thức xét mình và xưng tội. Nếu cần thiết thì phải tập cho người dự tòng biết cách xưng tội, và tập xưng tội trước. Ngoài ra cũng phải chú ý dạy kỹ các bí tích, khi nào bí tích thành sự và không thành sự.” Thầy Đa-minh Nguyễn Hoàng Long, SSS hiện đang dạy giáo lý dự tòng tại đây góp ý: “với người dạy giáo lý dự tòng thì việc cần thiết là phải soạn giáo án cho thật kỹ trước khi lên lớp.” Ngoài ra, trong khi tham gia học giáo lý dự tòng, các bạn cũng cần phải được tham gia nhiều chương trình sinh hoạt của giáo xứ, nhất là các giao lưu giữa các lớp. Đó là kiến nghị của thầy Phê-rô Mai Quốc Anh, SSS. Thầy thêm rằng: “hiện giờ đa số quý thầy dạy ở các lớp học tự tổ chức các buổi giao lưu thể thao, văn nghệ của lớp mình với mục đích đồng hành, khích lệ, tạo tương quan giữa người dạy và học viên. Thiết nghĩ việc này cũng cần thiết, nên xin kiến nghị văn phòng Mục Vụ giáo xứ lưu tâm. Có thể tổ chức giao lưu giữa các lớp với nhau.”
Nhiều học viên khi được hỏi có những thao thức gì trong tương lai, hay có tiếp tục theo đạo sau khi kết hôn, thì phần lớn các bạn tỏ thiện chí sẽ giữ đạo. Tuy nhiên, khi một giả định đặt ra cho các học viên: “Nếu người người yêu của bạn quyết định không kết hôn nữa vì lý do nào đó, thì bạn có tiếp tục học đạo và theo đạo không?” Nhiều bạn tỏ thái độ ngập ngừng, hoặc chỉ cười, hoặc không trả lời. Bạn Hoàng Thị Thùy Dung, quê Quảng Bình, sinh 1991 chia sẻ: “gia đình con theo đạo Phật. Chồng sắp cưới của con là con trưởng nên con phải theo anh ấy. Nhưng nếu anh ấy bỏ con, con nghĩ mình vẫn tiếp tục theo đạo.” Cũng với câu hỏi giả định được đặt ra, bạn Võ Minh Tiến, quê Bình Dương, 21 tuổi trả lời: “điều đó cũng khó nói lắm.”
Quả thật rất khó nói, khó nghĩ về một thực trạng tưởng dễ mà lại quá khó. Đó là vấn đề được đặt ra không chỉ cho các cấp lãnh đạo trong Giáo hội mà cho tất cả các tín hữu. Lời mời gọi của Chúa Giê-su năm xưa như vọng lại bên tai: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mt 16, 15). Với chức vụ Ngôn sứ nhận được khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, mỗi Ki-tô hữu được mời gọi truyền giáo đến mọi người và mọi nơi. Thật vậy, bản chất của Giáo hội là truyền giáo. Tuy nhiên, trước những dấu chỉ mới của thời đại, tình trạng di dân ngày một tăng, thì phải chăng truyền giáo là lên đường đến những vùng đất xa xôi như các nhà thừa sai của thế kỷ 18, 19; hay truyền giáo là đến với những di dân đang sinh sống xung quanh mình. Rất khó để định nghĩa truyền giáo hiện nay là gì, nhưng sự kiện nhiều người theo đạo vì lý do hôn nhân cũng đáng được lưu tâm. Đức tin là ơn Chúa ban, nhưng đức tin đó phải được dưỡng nuôi trong cộng đoàn. Thế nên để người tân tòng có thể giữ đạo và sống đạo thì cần phải có sự giúp đỡ của cộng đoàn. Thiết nghĩ mỗi người tín hữu có thể làm việc này bằng chính đời sống chứng nhân của mình bởi “người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con hãy thương yêu nhau.” (Ga 13,35)
Chia tay các học viên giáo lý dự tòng, tạm biệt giáo xứ Khiết Tâm, chúng tôi ra đi mang theo cả những băn khoăn, thao thức. Một câu hỏi lớn bất chợt trong suy nghĩ: “Nếu như cha xứ, Ban Hành Giáo và mọi người đã tạo điều kiện rất tốt cho các anh chị em dự tòng học đạo và giữ đạo, nếu như anh chị em dự tòng nhiều người rất thích thú, tha thiết theo đạo thì tại sao tỷ lệ bỏ đạo sau khi rửa tội lại quá lớn? Phải chăng giáo lý Công giáo chỉ là một mớ lý thuyết hấp dẫn nhưng không thực tế?” Xin được mượn lời chia sẻ của thầy Đa-minh Nguyễn Hoàng Long, SSS thay cho lời kết: “Tôi nhận thấy, từ cha xứ, ban hành giáo, đến những người giảng dạy giáo lý như chúng tôi đã rất tâm huyết, hết lòng giúp đỡ các anh chị em dự tòng và tân tòng về mọi mặt. Đó là sự đóng góp của chúng tôi trong công việc truyền giáo. Tuy nhiên, kết quả như thế nào, các bạn tân tòng giữ đạo ra sao thì chỉ biết cầu nguyện và phó thác cho Chúa. Hãy để Chúa Thánh Thần làm việc, và chính Ngài sẽ nâng đỡ bước chân họ.”
Vâng! “Hãy để Chúa Thánh Thần làm việc, và chính Ngài sẽ nâng đỡ bước chân họ!” Liệu chúng ta có dám tin như thế không?

           

  

Tùy bút NHỮNG KẺ THA PHƯƠNG CỦA THỜI ĐẠI

Tùy bút NHỮNG KẺ THA PHƯƠNG CỦA THỜI ĐẠI ---|sss|--- Con đã ngồi suốt nhiều giờ trong tòa giải tội ở Giáo xứ Thánh Gia, Berlin, Đức qu...